Xã hội tôn vinh người giáo bao nhiêu thì cũng gán định cho người giáo đó những chuẩn mực khắt khe bấy nhiêu. Còn Gordon, một cách công bằng, ông trả lại cho người giáo hình ảnh đời nhất - giáo viên cũng là con người, cũng hỉ, nộ, ái, ố như bất kỳ ai. Và, trường học, nơi hội đủ của các thành phần, tầng lớp, thế hệ, sự khác biệt, cũng lại là nơi diễn trình dạy và học (hai quá trình tách biệt nhau) thì các mâu thuẫn nhu cầu, giá trị xảy ra thường là điều hiển nhiên. Tuy thế, hướng đến các giờ dạy-học thực sự chất lượng, nơi mà giáo viên tập trung cho việc dạy còn học sinh chuyên tâm cho việc học vẫn là điều có thể đạt được, và có thể đạt được bằng cách giản đơn nhất, lệ thường nhất, ấy là qua các cuộc trò chuyện.
Nói đúng hơn, luận đề của Gordon trong cuốn "Giáo viên hiệu quả" là, chất lượng của việc dạy học đến từ chất lượng hay tính hiệu quả trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Và vì vậy, cuốn sách đề cập đến các kỹ năng giao tiếp mà giáo viên cần có để trở nên hiệu quả trong việc hình thành, xây dựng các kết nối với học sinh.
Dưới đây là một số tóm lược ngắn gọn về nội dung chính của cuốn sách.
Chương 1: Giới thiệu luận đề và, có thể xem như, một tóm tắt nội dung các chương liền sau về cách tiếp cận vấn đề giáo viên hiệu quả.
Chương 2: Hiểu về cửa sổ hành vi Gordon với ý nghĩa mọi thứ học sinh có thể nói hay làm đều thể hiện dưới dạng hành vi. Đó cũng là cách học sinh này liên hệ với bạn (giáo viên hay người quan sát nhìn từ cửa sổ). Những hành vi này, có thể là chấp nhận được hoặc không chấp nhận được mà đường biên giữa chúng có thể dịch chuyển lên xuống bởi 3 nhân tố: 1- Sự thay đổi của bản thân giáo viên; 2- Cảm nhận khác biệt đối với các học sinh khác nhau; và 3- Những thay đổi trong tình huống hoặc môi trường. Cũng có khi giáo viên chỉ giả vờ chấp nhận hành vi của trẻ. Điều quan trọng sau quá trình quan sát hành vi là cần giải mã nhu cầu thực sự đằng sau chúng và lý giải ai sở hữu vấn đề. Gordon đặc biệt nhấn mạnh, GV bắt buộc phải phân biệt được những vấn đề mà HS gặp phải trong cuộc sống và mang lại rắc rối cho HS chứ ko ảnh hưởng đến GV, với những vấn đề có ảnh hưởng rõ ràng và cụ thể đối với GV thông qua việc cản trở nhu cầu của GV. Chính bởi 2 tình huống này đặt cho GV các ứng xử thực sự khác nhau. (Điều mà sẽ được trình bày ở các chương kế tiếp). Theo đó, khu vực dạy-học hiệu quả phải là khu vực không có vấn đề. Tốt hơn hết là mở rộng khu vực không có vấn đề bao nhiêu, chất lượng của việc dạy-học càng tăng lên bấy nhiêu.
Chương 3 và 4 tập trung vào tình huống HS gặp vấn đề trong chính cuộc sống của chúng và trách nhiệm thay đổi thuộc về chúng.
Chương 3: Khi học sinh sở hữu vấn đề, cách hiệu quả nhất của giáo viên là lắng nghe chủ động (hơn là lắng nghe thụ động - im lặng hay chỉ đưa ra lời gợi mở, lời mời trò chuyện). Ý tưởng của lắng nghe chủ động, là sự tin tưởng vào học sinh rằng HS có đủ năng lực để tự giải quyết vấn đề của chúng, và khi đó chúng tự chủ, tự tin.
Trước đó, trong chương này, Gordon cũng đưa ra nhận định rằng, mặc dù, GV nhạy cảm trong việc nhận biết các tín hiệu cho thấy HS đang gặp vấn đề, nhưng những thông điệp gửi đi của GV dễ dàng bị rơi vào 12 rào cản giao tiếp với các nhóm ngôn ngữ thể hiện sự không chấp nhận, mà chúng ngăn cản hoạt động giao tiếp tiến xa hơn, sâu hơn, thậm chí hoàn toàn chấm dứt quá trình giao tiếp. Đó là: 1- Ra lệnh, chỉ huy, chỉ đạo; 2- Cảnh báo, đe dọa; 3- Răn dạy, giảng đạo, đưa ra "những điều nên làm" và "những điều phải làm"; 4- Tư vấn, đưa ra các giải pháp hoặc đề xuất; 5- Giảng giải, thuyết giảng, sử dụng logic, đưa ra sự thật; 6- Phán xét, phê bình, phản đối, đổ lỗi; 7- Sỉ nhục, định kiến, chế giễu; 8- Giải nghĩa, phân tích, phỏng đoán; 9- Khen ngợi, đồng tình, đưa ra những đánh giá tích cực; 10- Trấn an, thông cảm, an ủi, ủng hộ; 11- Đặt câu hỏi, thăm dò, chất vấn, tra vấn chéo; 12- Rút lui, làm sao nhãng, châm biếm, nói đùa, chuyển hướng.
Chương 4: GV có thể áp dụng lắng nghe chủ động để thúc đẩy thảo luận nhóm lấy nội dung làm trung tâm, xử lý khi HS kháng cự hay giúp đỡ HS phụ thuộc. Theo Gordon, trong mỗi người chúng ta đều có động lực hướng tới sự độc lập và tự chịu trách nhiệm rất lớn. Tất nhiên, các kỹ năng này đòi hỏi sự rèn luyện, thực hành thường xuyên. GV xử lý không tốt các cuộc thảo luận hay trò chuyện có thể khiến cuộc chuyện lan man mà không đi đến đâu.
Điều đáng khích lệ áp dụng lắng nghe chủ động là bởi nó thúc đẩy sự trưởng thành, độc lập, tự tin và tự chủ ở HS. Chính bởi khi HS học được cách dựa vào nguồn lực của chính mình, tin tưởng vào cảm xúc của chính mình và chấp nhận hậu quả của quyết định mà mình đưa ra là khi đó bản thân học sinh phát triển sự tự tin, tự chủ và độc lập. Còn GV được thoát khỏi nhiệm vụ bất khả thi là chịu toàn bộ trách nhiệm cho việc học của HS.
Chương 5. Khi GV sở hữu vấn đề, để điều chỉnh hành vi không thể chấp nhận của HS nhằm đáp ứng nhu cầu của GV, GV cần làm việc hay cố gắng điều chỉnh với 3 biến số: 1- Hành vi của HS; 2- Môi trường và 3- Bản thân. Trong khi các thông điệp đối đầu với HS (điều chỉnh HS) dễ rơi vào 3 nhóm: 1- Thông điệp giải pháp; 2- Thông điệp công kích; và 3- Thông điệp gián tiếp và chúng đều không hiệu quả (vẫn xoay quanh 12 rào cản giao tiếp) thì cách hiệu quả hơn là truyền tải thông điệp "tôi". Việc gửi đi thông điệp "tôi" không hề dễ dàng, và đòi hỏi 3 thành phần: 1- Mô tả hành vi (không phán xét) 2- Tác động rõ ràng hoặc cụ thể chính xác là gì?; và 3- Cảm xúc bên trong GV. Điều đáng lưu ý ở đây là, thông điệp "tôi" tức giận với cảm xúc tức giận, được cho rằng, không phải là cảm xúc đầu tiên mà thực tế nảy sinh sau khi đã trải qua một cảm xúc trước đó. Tức giận vì thế được hiểu là cảm xúc thứ cấp và sự tức giận có thể được xem như một biểu hiện hoặc hành động thay vì một cảm nhận hay cảm xúc thực sự. Và thực tế, khi GV "truyền đạt sai" thông điệp thành cảm xúc tức giận (hay GV tự khiến mình tức giận), xu hướng là HS trở nên hung hăng và phản ứng mạnh hơn. Cuối cùng, các GV trong chương trình T.E.T cho biết rằng, thông điệp "tôi" của họ cuối cùng cũng có ảnh hưởng đến HS, khiến chúng bắt đầu tự mình gửi đi thông điệp chân thành - cho các HS khác và cho GV. Thực tế, HS có sẵn thái độ sẵn sàng thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của người lớn, còn người lớn thì chẳng qua là thường xuyên đánh giá thấp thái độ này của HS.
Chương 6. Để ngăn ngừa các vấn đề, một cách thức có thể thực hiện là điều chỉnh môi trường lớp học, theo hướng: 1- Nâng cao chất lượng môi trường nhằm tăng cường kích thích cảm xúc HS; 2- Giảm chất lượng môi trường có quá nhiều kích thích; 3- Giới hạn môi trường, hợp lý là ở một nơi nhất định trong một thời gian nhất định; 4- Mở rộng môi trường ra thế giới bên ngoài; 5- Sắp xếp lại môi trường; 6- Đơn giản hóa môi trường vốn phức tạp với trẻ (theo nhiều cách); 7- Hệ thống hóa môi trường (không quá mức) phù hợp với lớp học mô hình nhóm nhỏ hay các hoạt động tương đối quen thuộc; 8- Lên kế hoạch trước cho môi trường và thảo luận kỳ vọng với HS. Đồng thời, một cách lên kế hoạch cho môi trường học tập tốt hơn là nâng cao chất lượng thời gian trong lớp học với 3 loại thời gian có thể sử dụng: 1- Thời gian phân tán; 2- Thời gian cá nhân và 3- Thời gian tối ưu (thời gian tương tác với nhau hoặc thời gian một - một.
Chương 7. Mâu thuẫn nhu cầu - mâu thuẫn ảnh hưởng đến nhu cầu của cả hai bên hay cả hai cùng sở hữu vấn đề trong lớp học đòi hỏi GV sử dụng hiệu quả Phương pháp III (win-win) thay vì Phương pháp I (GV thắng - HS thua) hay Phương pháp II (GV thua - HS thắng) vốn không hiệu quả. Phương pháp I và II là những phương pháp sử dụng quyền lực để giải quyết mâu thuẫn, và một cuộc đấu tranh quyền lực, thì tương ứng sẽ nhận lại "quyền lực" ngược lại với sự chống đối, nổi loạn, thách thức hay trả đũa, v.v...từ HS. Nói tóm lại, "quyền lực không bao giờ tạo ra ảnh hưởng". "Để có được ảnh hưởng thực sự, người đó không được sử dụng quyền lực."
Chương 8. Phương pháp III xử lý mâu thuẫn ổn thỏa mà giải pháp thỏa đáng là đáp ứng nhu cầu của các GV và HS. Quy trình giải quyết vấn đề bằng phương pháp III trải qua 6 bước gồm: 1- Xác định vấn đề (mâu thuẫn); 2- Đưa ra các giải pháp khả thi; 3- Đánh giá các giải pháp đã đưa ra (việc thuyết phục sử dụng giải pháp nào được đặt ra lúc này); 4- Đưa ra quyết định; 5- Xác định cách thức thực hiện quyết định; 6- Đo lường mức độ thành công của giải pháp được chọn. Lợi ích của phương pháp III trong trường học là: không còn sự oán giận, tăng cường động lực thực hiện giải pháp; "hai người hợp lại vẫn hơn 1 người" (ám chỉ kiến thức và kinh nghiệm của GV không thể nào tốt hơn kiến thức và kinh nghiệm của cả giáo viên và học sinh...)
Chương 9: Tác giả đưa ra một vài ứng dụng của Phương pháp III trong giải quyết một số vấn đề khác. Như trong giải quyết vấn đề học thuật giữa HS và GV; mâu thuẫn giữa các HS mà GV là chất xúc tác để HS áp dụng quy trình 6 bước của Phương pháp III; hay dùng Phương pháp III để thiết lập quy định và nguyên tắc trong lớp học. Một trong những khó khăn được các GV bày tỏ khi chuyển đổi việc áp dụng giải quyết mâu thuẫn từ Phương pháp I hay II sang Phương pháp III là sai lầm về việc xác định những mâu thuẫn của mình và HS theo khía cạnh "cạnh tranh giải pháp". Điều cần làm lúc này là truyền đi thông điệp "tôi" chân thực và bám sát việc làm rõ nhu cầu của các bên (thay vì áp đặt giải pháp). Bên cạnh đó, các vấn đề được giải quyết đòi hỏi nằm trong khu vực tự do của GV. Tiếp tục, sau khi đạt được quyết định, GV lại thường đối mặt với việc HS đưa ra các hình phạt cho việc vi phạm thỏa thuận. Với tình huống này, GV cần nhắc nhở HS rằng phương pháp giải quyết mâu thuẫn mới chính là cách thay thế hình phạt, việc đặt ra các quy định và thỏa thuận dựa trên niềm tin những người tham gia sẽ thực hiện nó. Nói thêm rằng, vẫn có trường hợp nỗ lực tạo ảnh hưởng với HS là chấp nhận được (liên quan đến 1- những trường hợp bất thường và 2- tình huống có những quy định kiểu liên quan đến trò chơi); và khi mâu thuẫn thực sự xảy ra từ nỗ lực tạo ảnh hưởng, trong một số trường hợp, GV sử dụng phương pháp I vẫn được xem là xứng đáng. Nhưng tất, ngay sau đó đòi hỏi GV cần có những kỹ thuật tiếp theo để ngăn ngừa tổn hại liên quan đến mối quan hệ của mình.
Thực tế kinh nghiệm của các chương trình đào tạo thanh niên hiệu quả (Y.E.T) cho thấy lợi ích của các khóa học trong việc tăng cường lòng tự trọng của trẻ, cải thiện mối quan hệ của trẻ với bạn bè, GV, cha mẹ; và ngăn chặn các cuộc tranh cãi, đánh nhau, hà hiếp hay bạo lực.
Chương 10. Khu vực xung đột giá trị là khu vực dưới cùng của cửa sổ hành vi - nơi cả hai cùng sở hữu vấn đề. Tuy thế, khó có thể xác định một cách rõ ràng và cụ thể ảnh hưởng của xung đột giá trị lên bạn (hay GV), dễ hơn là cảm nhận không vừa lòng của bạn với những gì mà HS thể hiện ra. Để giải quyết xung đột giá trị, đôi khi Phương pháp III vẫn phát huy hiệu quả, còn tuyệt đối không áp dụng phương pháp I và II. Tuy vậy, cách hiệu quả hơn cả là biến GV trở thành người tư vấn hiệu quả. Kết hợp linh hoạt với lắng nghe chủ động, và khi đó, bạn biến xung đột giá trị trở thành vấn đề HS sở hữu và cần chấp nhận trách nhiệm giải quyết thuộc về HS. Cần thực hiện một số nguyên tắc để trở thành người tư vấn hiệu quả cho các xung đột giá trị. Đó là: 1- Không bắt đầu thay đổi khách hàng cho đến khi chắc chắn là mình đã được thuê, mà để được thuê, GV đôi khi cần bán dịch vụ của mình; 2- Chuẩn bị chu đáo các sự thật, thông tin, dữ liệu mà tùy thuộc vào vấn đề mà GV lựa chọn hay đưa ra dịch vụ tư vấn phù hợp; 3- Chia sẻ chuyên môn một cách súc tích, ngắn gọn và chỉ một lần - không làm phiền, sự kết hợp với lắng nghe chủ động được thực hiện ở bước này; 4- Để khách hàng chịu trách nhiệm về việc chấp nhận những nỗ lực của người tư vấn nhằm tạo ra thay đổi. Bên cạnh đó, cũng có gợi ý khác cho việc giải quyết xung đột giá trị là làm gương với những điều bạn coi trọng hay điều chỉnh bản thân để dễ dàng chấp nhận người khác hơn hay phương pháp thứ tư là cầu nguyện - đúng hơn là điềm tĩnh để chấp nhận những gì họ không thể thay đổi - giá trị, niềm tin, đức tin của HS.
Chương 11. Gợi ý vv GV có thể làm gì để thay đổi trường học, giúp trường học trở thành một nơi hiệu quả cho việc giảng dạy. Trước hết, Gordon đánh giá cao vai trò quan trọng của giáo viên và nhấn mạnh rằng: là một giáo viên, bạn không phải là cấp dưới cùng trong hệ thống cấp bậc trường học, mà bạn thuộc cấp đầu tiên - mọi thứ bắt đầu và kết thúc từ bạn và những gì bạn làm với HS của mình. Và vì vậy, GV hoàn toàn có những khả năng để thay đổi trường học tốt hơn, ngay từ những việc nhỏ nhất như góp tiếng nói trong các cuộc họp, cho đến bàn luận công việc với cấp trên.