(07/17/2017)
Một tác phẩm về triết học Trung Quốc được viết bởi một trong những nhà sử học và triết học vĩ đại nhất của Trung Quốc thế kỷ 20. Tác phẩm được viết bằng tiếng Anh và được dịch ra tiếng Việt bởi dịch giả Lê Anh Minh (người đạt giải dịch thuật của quỹ văn hóa Phan Châu Trinh năm 2010). Mình có cả hai bản Anh và Việt và hiện giờ đã đọc quyển này hai lần, một lần bằng bản Việt và một lần bằng bản gốc tiếng Anh. Theo ý kiến cá nhân thì với những tác phẩm về triết học Trung Quốc, có lẽ đọc bằng tiếng Việt vẫn hay và thú vị hơn. Không chỉ vì sự tương đồng và gần gũi về mặt tư tưởng văn hóa giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, sự giao thoa về mặt ngôn ngữ thể hiện qua các cụm từ Hán Việt cũng làm cho việc cảm nhận câu từ trở nên dễ dàng hơn. Ví dụ, hai chương quan trọng nhất trong tác phẩm Trang Tử Nam Hoa Kinh là Tiêu Dao Du và Tề Vật Luận được dịch sang tiếng Anh là Happy Excursion hoặc Wandering Where You Will và Working Everything Out Evenly. Có thể cảm nhận về từ ngữ tiếng Anh của mình không đủ tốt nên thấy bản dịch tiêu đề tiếng Anh vừa dài dòng khô cứng hơn vừa kém gợi tả hơn, thậm chí có phần hơi thô thiển. Tuy nhiên, bản gốc tiếng Anh có vẻ lại rõ ràng, khúc chiết và mạch lạc hơn, một ưu điểm không nhỏ đối với một cuốn sách về triết học.
Về tác phẩm, giống như tiêu đề, đây là một cuốn sách lược sử và nhập môn về triết học Trung Quốc từ thời Bách gia chư tử (bắt đầu với Khổng Tử) và kết thúc với các nhà tư tưởng và triết gia thời đại cách mạng Tân Hợi năm 1911. Nếu như tư tưởng của các triết gia thời đại Bách gia chư tử như Khổng Mạnh và Lão Trang đã được phổ biến tương đối rộng rãi ở Việt Nam qua tác phẩm của các trí thức thời trước như Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Duy Cần thì tác phẩm và cuộc đời của những triết gia thời sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc có lẽ có phần ít được biết đến. Và với cá nhân mình, đây một trong những điều mới mẻ mình học được từ cuốn sách. Cùng với sự thống nhất về chính trị dưới đời Tần, sự thống nhất về tư tưởng xảy ra khi đa phần các trường phái của Bách gia chư tử biến mất, bị thâu tóm và hòa quyện vào hai trường phái độc tôn Khổng Mạnh và Lão Trang. Bên cạnh hai dòng tư tưởng chủ đạo này, triết học Phật giáo du nhập từ Ấn Độ vào đời Hán, đem lại cho tư tưởng Trung Quốc khái niệm Phật tính (Tâm vũ trụ); Huyền học (Neo-Taoism) và Đạo học (Neo-Confucianism) là nỗ lực của các nhà triết học đời Tống, Tùy, và Đường trong việc kết hợp những tinh túy của tư tưởng Nho (Khổng Mạnh) và Đạo (Lão Trang); còn Thiền Tông phần nào là kết quả của sự giao thoa giữa Phật và Đạo, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đạt được chân lý bằng đốn ngộ, coi trọng trực giác và xem nhẹ kinh điển, câu chữ giáo lý khô khan. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra nhiều lý do mà theo vốn kiến thức hiểu biết ít ỏi của mình là khá hợp lý cho sự thành công của tư tưởng Pháp gia với đại diện là Hàn Phi Tử trong việc giúp nhà Tần thống nhất Trung Quốc, sự tồn tại ngắn ngủi của nó, cũng như sự độc tôn của Nho học trong suốt thời gian sau này. Chẳng hạn, sự thực dụng và kỷ luật của tư tưởng Pháp gia là cần thiết để lập lại trật tự xã hội trong một thời kỳ loạn lạc, nhưng sự cứng rắn và tàn nhẫn của nó làm người dân mệt mỏi, tạo điều kiện phần nào cho sự phát triển của tư tưởng vô chính phủ của Lão Trang. Nhưng một tổ chức chính trị quân chủ chuyên chế đương nhiên không thể cổ súy Lão Trang, mà cần một hệ tư tưởng đề cao lễ nghĩa, trật tự, phân chia rõ ràng các mối quan hệ chính trị đạo đức vua tôi, quân thần, cha con, vợ chồng, nhằm giải thích cũng như củng cố quyền lực của giai cấp quý tộc. Và nó đã tìm thấy điều này ở Nho học.
Hai chương mở đầu và kết thúc tác phẩm là những chương quan trọng khi tác giả mở đầu với những câu hỏi cơ bản về định nghĩa và mục tiêu của triết học, so sánh triết học Trung Quốc (tư tưởng phương Đông) với triết học Hy Lạp (tư tưởng phương Tây) và giải thích sự giống và khác biệt giữa hai nền tư tưởng thông qua bối cảnh xã hội và kinh tế. Một đất nước lục địa, người dân sống dựa vào nghề nông, phụ thuộc vào đất đai, có lẽ phần nào tạo ra một dân tộc với tính cách đơn giản, thuần phác, coi trọng thiên nhiên, đặt nặng quan hệ gia tộc, và lối tư duy thiên về trực giác và cảm nhận, trong khi một đất nước hải đảo sống bằng thương mại sẽ đẩy mạnh tính cách linh hoạt, tư duy tính toán và suy luận logic, dựa trên hoàn cảnh phải làm việc với những con số. Một nền triết học cho tương lai sẽ phải là sự kết hợp của hai yếu tố này như tác giả khẳng định: "Tư duy rõ ràng không phải là kết cục của triết học, nhưng nó là quy luật thiết yếu mà mỗi triết gia đều phải cần. Chắc chắn nó là cái mà các triết gia Trung Quốc cần. Trái lại lịch sử triết học phương Tây đã không nhìn thấy sự phát triển trọn vẹn của phương pháp phủ định. Chính sự kết hợp hai phương pháp sẽ tạo ra nền triết học của tương lai."
Cuối cùng, xin kết thúc bài viết tán nhảm bậy bạ này với một số đoạn trích mà mình thích từ tác phẩm, về ý nghĩa của triết học và nhiệm vụ của triết gia: "Đối với tôi, cái mà tôi gọi là triết học chính là sự tư duy phản chiếu và có hệ thống về kiếp người. Ai chưa chết thì vẫn hiện hữu trong kiếp người. Thếnhưng rất ít người suy tư trở ngược về kiếp người, và càng ít người có suy tư hệ thống về kiếp người. Một triết gia phải triết học hóa, tức là phải tư duy phản chiếu về kiếp người và rồi phải diễn đạt tư tưởng của mình có hệ thống. [...]. Triết học của triết gia đòi hỏi ông phải sống trong nó. Bản thân triết gia là chiếc xe chuyên chở triết học của mình. Sống đúng theo các niềm tin triết học của mình là một phần của triết học của triết gia. Ông không nói suông với triết học của mình. Ông cũng chẳng phải là một triết gia hủ lậu hàm hồ, tự giam mình trong thư phòng, ngồi trên chiếc ghế đặt bên lề cuộc đời. Đối với ông, triết học không phải là một khuôn mẫu các khái niệm được phô bày cho nhân loại hiểu biết, mà nó là một hệ thống các giới cấm nằm trong hành vi của triết gia. Trong những trường hợp cực đoan, thậm chí ta có thể nói triết học của ông chính là tiểu sử của ông vậy. [...] Triết học Trung Quốc luôn có xu hướng nhấn mạnh rằng thánh nhân không cần làm gì khác thường cả để là thánh nhân. Thánh nhân không thể làm phép màu, mà cũng chẳng cần làm thế. Ngài chẳng làm gì khác hơn mọi người làm, nhưng ngài làm với sự hiểu biết cao. Cái mà ngài làm thì có ý nghĩa khác biệt với ngài, ngài làm việc của ngài với sự giác ngộ, còn người khác làm việc của họ với sự vô minh. Một thiền sư nói rằng: "Chữ Giác là nguồn gốc của mọi huyền diệu". Thiền Tông cũng có câu thông dụng: Gánh nước và bổ củi, tất cả đều là đạo huyền diệu (Đảm thủy khảm sài, vô phi diệu đạo)."