Nguyễn Duy Cần (1907-1998), hiệu Thu Giang, là một học giả, nhà văn, nhà biên khảo và trước tác kỳ cựu vào bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20.
Ông làm nghề viết sách, dạy học, lương y, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang, Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử, Linh Chi… Ông sống cùng thời với các học giả và nhà văn như: Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng…
Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tầng lớp thanh niên trí thức của ông.
Thân thế và cuộc đời
Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1907 tại làng Điều Hoà, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).
Ông là con trai của ông Nguyễn Văn Tâm, một người uyên thâm Hán học và là một trong những người được đào tạo Tây học khóa đầu tiên vào những năm 1885 - 1890. Sau khi ra trường, ông Tâm làm thầy giáo rồi được phân công làm Đốc học kiêm Thanh tra giáo dục Mỹ Tho trong những năm 1910 đến 1920, sau đó được chính quyền thực dân phong hàm Đốc phủ sứ. Ông Nguyễn Văn Tâm vốn là một nhà Nho rất tinh thâm Đạo học Đông Phương (Dịch, Lão, Trang) nhưng lại có tinh thần phóng khoáng, chuộng tư tưởng tự do nên rất ủng hộ Tây học. Chính người cha đã có ảnh hưởng đến Nguyễn Duy Cần rất lớn trên con đường nghiên cứu Đạo học sau này.
Nguyễn Duy Cần sinh ra vốn là một cậu bé có thể chất ốm yếu, khó nuôi nên cha ông cho ông theo làm con nuôi một cha Đạo người Pháp ở nhà thờ Mỹ Tho và ông được cho làm lễ rửa tội theo Đạo Thiên Chúa với tên thánh bổn mạng là Jacob, nhờ bước ngoặc này mà thời niên thiếu ông có cơ duyên tiếp xúc sớm với văn hóa Pháp thông qua sự dạy dỗ của cha Đạo, ông được học giáo lý Công Giáo, học Thánh Kinh cũng như học đàn, vẽ với các cha Đạo người Pháp và tất nhiên là học toàn bộ bằng Pháp ngữ.
Hàng ngày, sau giờ học ông lại say mê đọc các sách về thần học và văn hóa nghệ thuật Pháp và phương Tây trong thư viện của nhà thờ. Vì tiếp xúc với văn hóa Pháp sớm lại là người say mê đọc sách, học hỏi nên ông thừa nhận mình bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp, như ta thấy ông thừa nhận trong phần lời nói đầu quyển Tôi tự học: “…Guitton, Jules Payot, Gustave Rudler, là những học giả mà tác giả đã chịu nhiều ảnh hưởng nhất,…” hay trong Dịch kinh tường giải ông nói: “…Pháp ngữ là văn tự của văn minh cao nhất đại diện cho văn hóa La Tinh”, về sau trong các tác phẩm biên khảo của mình ta thấy ở phần tài liệu tham khảo ông ghi các tác phẩm ông nghiên cứu có đến 80 phần trăm là tài liệu bằng Pháp ngữ.
Sự nghiệp nghiên cứu và trước tác của Nguyễn Duy Cần bắt đầu từ năm 1931 với việc xuất bản quyển Triết học đầu tiên "Toàn chân", gây nên một cuộc bút chiến sôi nổi trên báo Mai. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục cho xuất bản các tác phẩm khá đều đặn. Năm 1935, ông cho ra đời quyển sách đầu tay: Duy tâm và duy vật.
Năm 1937, ông Nguyễn Văn Tâm sáng lập ra Tạp chí Nay, giao cho con trai là Nguyễn Duy Cần làm chủ bút kiêm quản lý. Lúc bấy giờ ở Mỹ Tho có nhiều tờ báo xuất bản tại địa phương, hầu hết dưới dạng tạp chí, có tờ ra định kỳ, có tờ ra không định kỳ và thường không kéo dài như: Chiêu Anh văn tập, Đông phương tạp chí, Tiểu thuyết tuần san,... Tạp chí Nay của Nguyễn Duy Cần sống lâu hơn, ra được 15 số (số 1 ra ngày 1 tháng 6 năm 1937 và số cuối cùng ra ngày 15 tháng 7 năm 1938).
Tạp chí Nay là một tạp chí văn chương, triết học, khoa học, y học, xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, mang tính chuyên nghiệp cao. Báo thường xuyên có các bài luận thuyết về triết học của Thu Giang và nghiên cứu về văn học của Nguyễn Phi Oanh, về tâm lý học của Tùng Chi, về y lý Đông - Tây của Vũ Trang,... và nhiều mục thường xuyên khác như: Học chữ Hán, Đạo đức kinh, Ẩm thực học, Tin Văn, Chuyện lặt vặt nên biết qua,… Đặc biệt, mục Thời cuộc thế gian đăng tin tức quan trọng ở trong nước, Đông Dương và Âu Tây. Với bút hiệu Thu Giang, chủ bút Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều cho tạp chí này. Ông có mặt thường xuyên ở mục triết học Đông - Tây và mục văn chương k
So với bản của bác Nguyễn Hiến Lê, bản này thể hiện cách hiểu Đạo qua việc so sánh nhiều với Khổng, sự tương quan giữa 2 luồng tư tưởng, và cả hai đã hình thành nên nếp tư tưởng người dân thế nào. Thế nên có cảm giác đặt được Đạo Đức Kinh trong một bức tranh rộng hơn để hiểu.
Bản của bác Lê dụng tư liệu của các bản dịch khác nhau, trình bày và cắt nghĩa; bản của bác Cần dùng thêm những bản phân tích của nhiều triết gia khác. Bác Lê thể hiện cái khác của từng cách dịch; bác Cần luận cái khác của các góc nhìn và tư tưởng.
Vậy nên, có cảm giác bản của bác Cần có sự "ưu ái" với Đạo, còn của bác Lê có vẻ khách quan hơn.
"đọc sách (về Đạo học) theo người Đông phương không phải là để học thêm của người, mà là để tìm hiểu cái sâu thẳm, khải phát cái mà lòng ấp ủ hoặc đã có sẵn nơi mình mà mình không dè."
Đọc cả hai bản, hiểu được mơ hồ về vô vi, về sống một. Tuy chưa hiểu hết, nhưng vẫn thấy lòng khấp khởi, bởi có đôi chỗ như gặp bạn lâu năm, gợi lên những suy nghĩ tự lâu đã khởi sinh trong lòng nhưng yếu ớt.
"Lão Tử tinh hoa" - Thu Giang Nguyễn Duy Cần Chưa nói đến sách, chỉ nói đến tên tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần thôi là trước mắt đã hiện lên hình ảnh bậc lão làng, tinh hoa của làng văn học Việt Nam, đặc biệt trong mảng nghiên cứu về triết học Phương Đông. Vì vậy mình đã chọn cho bản thân một khởi đầu an toàn, thay vì lao thẳng vào cuốn "Đạo Đức Kinh", thì đọc bài bình "Đạo Đức Kinh" vậy. Lão Tử và các quan điểm của ông gây tranh cãi rất nhiều, và thường được đặt lên bàn cân so sánh với Khổng Tử, nhưng theo mình, hệ tư tưởng nào cũng có cái hợp lí và không hợp lí của nó. Bài viết rất dài này, mình xin dẫn ra một số trích dẫn mà mình cũng như ông Thu Giang cho là tâm đắc, đồng thời thể hiện sự bất đồng quan điểm với một số định hướng của Lão Tử. Theo Dịch Kinh "Vật cùng tắc phản, vật cực tắc biến". Có lẽ Lão Tử đã phần nào dựa trên quan điểm này để đưa ra Quy luật phản phục "phiêu phong bất chung triêu, sậu vũ bất chung nhật" (Gió lốc không thổi suốt một buổi mai. Mưa rào không mưa suốt một ngày trường" hay như câu "Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi chí kiên" (Cái rất mềm của thiên hạ, thắng cái rất cứng trong thiên hạ). Từ câu trên cũng thấy được, Lão Tử không chuộng dùng bạo lực. Ông quan niệm bất tranh "Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh" (Chỉ vì không tranh, nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình" Thu Giang cũng biện giải cho Lão Tử rằng, "bất tranh" không thể hiện sự hèn nhát, đó là phương pháp, còn mục đích là "thiện thắng" tức thắng một cách thông minh mà không dụng đến binh đao, như Tôn Tử đề cao vậy. Sau Lão Tử cũng viết "Nếu bất đắc dĩ mà phải dùng đến bạo lực thì nên bình tĩnh điềm đạm" coi như có sự thực tế nhất định. Nhưng ta khó lòng đồng tình với cách trị nước bảo thủ của Lão Tử khi cho rằng không cần chiêu hiền tài, cũng không cần viết nhiều luật pháp. Xã hội Lão Tử tự xây dựng lên đã được lí tưởng hóa một cách thái quá. Đương nhiên chậm rãi phát triển mới là tốt, nhưng nếu cứ nghe theo Lão Tử, địa cầu vẫn sẽ dậm chân ở nền văn minh cổ đại mê muội nào đó. Thời ấy đúng là ít tội phạm thật, nhưng đời sống con người cũng chẳng sướng như tiên. Có lẽ quan điểm mình thích nhất ở Lão Tử đó là về giáo dục. Như Thu Giang diễn giải 4 chữ "Bất ngôn chi giáo" là "Chưa đến lúc nói thì không nói, đến lúc nói thì chỉ nói nửa lời [... ] người thông đạt là kẻ giúp cho người ta suy nghĩ chứ không phải suy nghĩ thế cho người." Thật giống như cách giáo dục của phương Tây thời nay. Lão Tử không đề cao học nhiều mà phải học cái không ai học để giúp đỡ người đời. Thu Giang cũng cho rằng Lão Tử và Khổng Tử không đơn thuần đối nghịch nhau, mà còn bổ sung lẫn cho nhau. Nếu như Khổng Tử là con sâu thì lão tử là con bướm, Khổng Tử là con gà nằm trong trứng, Lão Tử chính là giờ phút đập vỡ vỏ trứng, thoát sinh ra ngoài. Quá trình nào cũng đều quan trọng như nhau, không thể thay thế được. Nói chung "Lão tử tinh hoa" là một cuốn nhập môn khá hay cho những ai tò mò mà quá lười như mình :) Để thực hiện được cuộc giải thoát hoàn toàn với bản ngã theo kiểu Lão Tử, bước đầu tiên có lẽ chúng ta phải rút khỏi hoạt động xã hội. Sau này khi nào có bạc tỷ rồi mình mua cuốn Đạo Đức Kinh về đọc rồi đi lánh đời là vừa. Bây giờ chỉ nhặt cái dễ làm ra mà học thôi. Chấm điểm: 8/10
Đọc rồi mới thấy có nhiều cái tương đồng. Và nhiều thứ cần để được suy ngẫm và cân nhắc lại. Dù sao thì tui kết thúc cuốn này vào tuần sinh nhâth tui tuần tui vui vẻ, tui được giải thoát khỏi công việc tui k thấy ok nữa. Nên cx kỉ niệm. Sách triết lí nên p vừa đọc vừa nghỉ. Hihehiho
Lần thứ 2 đọc cuốn sách này, lần 1 là hồi mới ra trường, 23-24 tuổi. Hấp dẫn vì những tư tưởng bao trùm của Lão Tử, nhưng giờ đọc kĩ hơn thì ẩn trong đó rất nhiều thuật xử thế - hoặc thuật xử thế do người chú giải diễn theo ý mình, còn liệu Lão Tử thực sự có ý đó? Cụ Duy Cần là người chú giải Lão Tử gần với cái ý của Đạo nhất trong những nhà chú giải ở Việt Nam. Việc chú giải rất gian nan và mang nhiều tính chủ quan. Vì bản thân nguyên gốc hay ngay trong chú giải cũng đều nhấn mạnh cách viết trong cuốn sách mỏng 5000 chữ đều dùng việc khơi gợi, nên câu từ có phần tối nghĩa và ai muốn hiểu ra sao cũng được, nó gợi lên những tương cảm có sẵn nơi người đọc, hơn là trao truyền thêm kiến thức. Con đường Đạo và con đường Thiền (Đại Thừa) có nhiều nét tương đồng chính là vì lí do như vậy.
Cuốn này gần như bàn rộng một chút về ảnh hưởng và những tinh túy của Lão Tử mà phần lớn đều chỉ dựa trên cuốn Đạo Đức Kinh - gọi cuốn này là Đạo Đức Kinh mở rộng cũng được. Cụ Duy Cần chia sách ra 3 phần nhưng phần 2 là nội dung chính yếu khi bàn về Đạo, về cái động của Đạo, cái Đức của Đạo, sự Huyền Đồng với Đạo, bàn về Vô Vi.. so sánh với những khái niệm Hữu Vi của người đời, suy rộng thêm bàn về Học, về Phản Phục, Tri Túc Tri Chỉ, Bất Ngôn, Bất Tranh, Nhu Nhược.. những phần bàn rộng thêm thực ra đều từ cái Động, cái Đức của Đạo mà suy ra. Ngôn từ của Lão Tử luôn phải đọc với tâm thế tránh những khái niệm hữu vi. Ngay như câu : *Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.* Nếu chỉ hiểu theo khái niệm thông thường cho rằng lẽ trong trời đất vốn bất nhân, con người không khác gì chó rơm thì hiểu rất sai.. Nhưng vì sao chính Lão Tử không làm công việc chú giải - tự mình làm rõ hơn những gì mình viết mà để đời sau không biết bao nhiêu người diễn giải, giải thích hộ ông. Bản thân việc chú giải là đem cái hiểu của mình giải thích về Đạo mà *Đạo khả Đạo phi thường Đạo -* Đạo mà nói ra được thì đấy không đúng là Đạo nữa. Thêm nữa “tr*i giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” -* người biết thì không nói, mà kẻ nói thì không biết. Nên khi nhìn lại thấy bản thân của việc chú giải đã có chút gì không ổn.. Nhưng khi kiến thức còn mỏng, góc nhìn chưa sâu thì chú giải của những vị học giả là cách đưa bản thân người muốn tìm hiểu Đạo đến gần với Đạo hơn chút chăng?
Cái Động của Đạo là quay về (*Phản giả Đạo chi động*), Vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản. Hiểu được điều này sẽ trừ bỏ được những gì thái quá. Cụ nói rất nhiều về những ví dụ như vậy. Muốn làm cho cái gì yếu đi tức là đang nuôi nó mạnh lên, phải bỏ được sự thừa mứa thái quá, giữ quân bình. Đứng sau thiên hạ mà được tôn lên trước. Nhưng với cách giải như vậy thì cảm giác trong đó có tâm cơ toan tính cách làm sao để đứng trên thiên hạ.. lại thấy gì đó xa với Đạo. Cụ Cần mượn 2 quẻ Bác và quẻ Phục để nói về cái Động của Đạo. Quẻ Bác 5 hào dưới là âm, thượng cửu là dương - kháng long hữu hối. Con rồng tới chỗ phải quay đầu, thượng cửu dương ở quẻ Bác thành sơ cửu Dương ở quẻ Phục. Vật cùng tất biến, đi tới cực điểm sẽ trở lại nơi thấp nhất. Ở khoa vật lý có hình ảnh rất đặc trưng của hố đen. Siêu tân tinh là loại sao lơn tới cực điểm bị suy sụp hấp dẫn trở thành hố đen, mà hố đen về bản chất chỉ là 1 hạt sơ cấp khổng lồ. Dõi mắt nhìn sẽ thấy Đạo mênh mang ở khắp nơi. Hiểu được Đạo để trở thành 1 với Đạo hình như cũng tương đồng với con đường giải thoát mà đức Phật nói tới.
Lần đọc này thấy hiểu được thêm nhiều khía cạnh và phép xử thế sao cho hợp với lẽ quân bình của Đạo. Đạo luôn lấy chỗ thừa bù vào chỗ thiếu, thà giữ mình thiếu thốn còn hơn thừa mứa, khiêm nhường hơn là khoe khoang.. Nhà Phật có “*tam thường bất túc”* là 3 cái thông thường nhất của con người cũng nên giữ ở mức không đầy đủ, - ăn không đủ, ngủ không đủ, mặc không đủ cũng có lí do riêng. Đạo bao trùm, cao thâm mà gần gũi. Nhưng đọc chú giải nhiều khi không tránh khỏi thấy chính thiên kiến của người chú giải. Cụ Duy Cần gần như bỏ hết bản ngã để chú giải tránh rơi vào các khái niệm nhị nguyên rồi mà thỉnh thoảng vẫn thấy chút gợn. Có những khái niệm cụ đưa ra để bàn mà dùng lại những câu minh chứng ở khái niệm khác hơi nhiều. Vẫn biết 1 câu trong Đạo Đức Kinh mênh mông bao hàm quá nhiều thâm ý nhưng thấy nó mổ xẻ ở đủ các góc độ thì thấy thà giữ nguyên nó hoặc chú giải riêng câu đó thôi là đủ.
Đây là cuốn sách mang tính tổng hợp ngắn gọn lại nhưng tư tưởng tinh hoa nhất của Lão Tử theo nghiên cứu của tác giả Thu Giang. Cuốn sách bàn về nhiều góc cạch trong tư tưởng của Lão Tử, từ Đạo - Đức - Vô cho đến các như Tự nhiên, Nhu nhược, Bất ngôn tri giáo...
Qua đây cũng biết được rằng, Đạo giáo không chỉ có những gì chúng ta nhìn thấy như một tôn giáo hiện nay, ẩn sau nó có rất nhiều triết lý, tư tưởng sâu sắc, có tính ứng dụng cao. Mà theo tác giả Thu Giang cùng một số tác giả khác thì phần đạo lý, triết lý mới chính là tinh hoa và cốt lõi, còn phần tôn giáo, tu tiên, trường sinh... chỉ là cái vỏ bề ngoài, thậm chí còn là những sự biến tướng do hậu thế đặt ra.
Với bản thân mình, mình còn là "phàm nhân" thì lĩnh hội những giá trị có tính ứng dụng thực tế trong cuộc sống là cũng đã quá đủ để dùng cả đời rồi.
Xin chọn một số ý quá hay trong tư tưởng của Lão tử mà có tính ứng dụng cao: - Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri - Trong khi giao thiệp với đời, cần phải dứt tuyệt cái thói mang những mặt nạ của kẻ khác, của học thuyết này, học thuyết nọ, của giáo lý này, giáo lý kia… để mà đối xử với người.
Mặc dù Trang Tử xuất hiện sau Lão Tử, tuy nhiên, tác giả khuyến nghị chúng ta nên đọc Trang trước rồi mới đọc Lão thì sẽ thuận hơn.
Theo Lão Tử cách dạy tốt nhất là "Bất ngôn trí giáo'', có nghĩa là không dạy bằng lời. Muốn dạy tính trung thực cho người, đừng bảo người trung thực mà chính mình hãy trung thực. Muốn dạy tính kiên nhẫn cho người , đừng bảo người kiên nhẫn mà mình hãy kiên nhẫn. Làm vậy là đã hiểu thấu được một phần nhỏ tư tưởng Lão Tử rồi vậy.
Lịch trình diễn biến tự nhiên về đời sống tinh thần tâm lý của con người có thể chia ra làm ba giai đoạn sau đây: - Giai đoạn tạo sanh bản ngã. - Giai đoạn trưởng thành của bản ngã. - Giai đoạn cuối là giai đoạn vượt khó của bản ngã hay là tiêu diệt bản ngã, để sát nhập với cái sống của chân thể, đồng với cái sống vô cùng của trời đất. Sách cổ mà vẫn tinh hoa.
Nền tảng quản trị của một doanh nghiệp nên bắt đầu từ đây. Sau này đọc các cuốn sách khác về kinh doanh hay quản trị, tất cả dường như đã được bao quát trong cuốn sách này.
Đọc "Lão tử tinh hoa" ngay sau khi đọc cuốn "Đạo- con đường không lối" của Osho là một chuỗi liền mạch, giúp hiểu thêm về Đạo qua những lý giải của tác giả.
sách của cụ chưa bao giờ làm mình thất vọng, kiểu mình nghi ngờ là nhà xuất bản tuổi trẻ can thiệp nhiều về nội dung luôn ý, vì nó thuyết phục quá đi, khác hẳn với quyển của cụ Hiển Lê, quyển này mình thấy rất hay và phân tích đầy đủ tầng ý nghĩa, đúng là cụ idol <3
Những nguyên lý tạo ra, vận hành trời đất và vạn vật này là gì, ý nghĩa của cuộc sống này là gi, đó là những câu hỏi mà suốt 2 ngàn năm qua rất nhiều học giả ở cả phương Đông và phương Tây, và chính những người đang ở những ngã rẽ của cuộc đời như mình đang đi tìm một câu trả lời.
Có thể câu trả lời sẽ không toàn vẹn không đầy đủ. Nhưng rồi chuyện đời là vậy, còn chưa đạt đến trình độ của thánh nhân thì mỗi người sẽ có một góc nhìn riêng, một quan điểm riêng về câu hỏi này. Đọc, và suy ngẫm về lời dạy của thánh nhân như Đức Phật, Chúa Giê Su, Lão Tử rồi suy ngẫm và và rút ra, bổ sung kết luận cho bản thân là con đường mình chọn để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.
Rất cảm ơn tác giả Nguyễn Duy Cần đã bình luận, phân tích, giải thích để những người thế hệ con cháu như mình có thể dễ tiếp cận hơn với những triết lý tinh hoa của bậc thánh nhân phương Đông để lại, để rồi mình đọc rồi mới hiểu con đường về với Đạo còn dài, còn lắm chông gai. Đọc rồi mới hiểu là với mỗi người thì Đạo sẽ có một cách hiểu riêng, một hình hài riêng cho người đó. Đọc rồi mới hiểu nghe đến Đạo rồi mà để áp dụng những gì học được từ Đạo vào cuộc sống hiện tại cũng cần phải tinh tế và hài hòa.
Vì đúng là cứ cứng nhắc, rập khuôn áp dụng những gì sách viết mà không suy ngẫm, không để ý đến hoàn cảnh cuộc sống hiện tại mà lựa chọn áp dụng những gì, lựa chọn cách áp dụng như thế nào cho phù hợp thì lại như là đọc rồi mà không hiểu gì, đọc rồi mà như chưa đọc.
1. Đạo: Không có người này hay người kia. Đạo là ta cũng là mọi người, mọi người cũng là ta. 2. Vô: Hướng về cái không để tìm cái có. Muốn có thì phải có không. 3. Nhân nghĩa thánh trí: Người không có đạo mới cần đến nhân nghĩa thánh trí (trí có nghĩa là mưu mẹo xảo trá). 4. Học: Học cái bất khả tri, bất khả đạo, bất khả danh. Học về cái nguồn gốc, tức trở về Đạo. 5. Phản và phục: Trở về bản tính, trở về với cái đạo nơi mình. 6. Tự nhiên: Vô kỷ, vô công, vô danh. Đừng ép mình theo cái mà mình không muốn theo, cũng đừng ép người khác theo cái mình cho là phải. Tất cả để theo tự nhiên. 7. Tư hữ dư - bổ bất tức: - Bất cứ ai cũng ghét cái đầy (doanh) và ưa thích khiêm (vơi) - nhún nhường, từ tốn, hạ mình. - Tất cả mọi sự vật/sự việc đều có doanh và khiêm nên mới có động, mới có sự sống. Người khôn ngoan chọn khiêm để được doanh. 8. Tri túc - tri chỉ: Biết đủ - biết dừng. 9. Bất tranh: Người tài giỏi là người không thể hiện sự tranh đấu ra bên ngoài. Không đánh mà thắng mới là cái cao nhất trong binh pháp. 10. Nhu nhược: thuận theo, chiều theo, không cưỡng lại. Không chống cự nghĩa là không cho bên địch có cơ hội tranh đấu. Đó là lấy hư mà trị thực. 11. Bất ngôn chi giáo: Đạo học là một cái học tâm truyền tâm, không có thể nào dùng lời mà hình dung được, chỉ có thể cảm thông mà thôi. 12. Tam bửu: Từ, kiệm, không dám đứng trước thiên hạ. 13. Huyền đồng. 14. Vô vi.
Giúp tôi hiểu rõ hơn những khái niệm và tư tưởng của Lão Tử và Đạo giáo và mở mang những góc nhìn mới. "Tri chỉ, tri túc." "Tổn hữu dư, bổ bất túc." "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự Nhiên." "Phục kỳ bản, phản kỳ chân." "Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi. Nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên." "Vật cùng tất biến, vật cực tất phản." và nhiều nhiều rất nhiều những thứ khác...
Tôi cần phải đọc lại lần nữa. Đúc kết lần đầu của tôi: đối với bản thân giữ cho mình động lực sống, làm việc bằng cách bỏ đi những dư thừa. Đối với mọi người xung quanh, phải hiểu bản tính tự nhiên của họ và mình lựa chọn hành động phù hợp, tốt nhất cho từng tình huống.
Lão Tử hướng dẫn chúng ta duy trì thế phản phục trong hành trình trở về của đời người.
Lão học là một học thuyết sâu sa. Qua cuốn sách có thể thấy được một số tinh hoa tiêu biểu, hiểu rõ hơn về Lão học, về "vô vi". Cảm giác đọc mà như không đọc, đọc nhưng không hiểu.