Jump to ratings and reviews
Rate this book

Trang Tử tinh hoa

Rate this book

212 pages, Bìa mềm

First published January 1, 1956

10 people are currently reading
176 people want to read

About the author

Thu Giang Nguyễn Duy Cần

29 books447 followers
Nguyễn Duy Cần (1907-1998), hiệu Thu Giang, là một học giả, nhà văn, nhà biên khảo và trước tác kỳ cựu vào bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20.

Ông làm nghề viết sách, dạy học, lương y, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang, Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử, Linh Chi… Ông sống cùng thời với các học giả và nhà văn như: Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng…

Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tầng lớp thanh niên trí thức của ông.

Thân thế và cuộc đời

Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1907 tại làng Điều Hoà, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).

Ông là con trai của ông Nguyễn Văn Tâm, một người uyên thâm Hán học và là một trong những người được đào tạo Tây học khóa đầu tiên vào những năm 1885 - 1890. Sau khi ra trường, ông Tâm làm thầy giáo rồi được phân công làm Đốc học kiêm Thanh tra giáo dục Mỹ Tho trong những năm 1910 đến 1920, sau đó được chính quyền thực dân phong hàm Đốc phủ sứ. Ông Nguyễn Văn Tâm vốn là một nhà Nho rất tinh thâm Đạo học Đông Phương (Dịch, Lão, Trang) nhưng lại có tinh thần phóng khoáng, chuộng tư tưởng tự do nên rất ủng hộ Tây học. Chính người cha đã có ảnh hưởng đến Nguyễn Duy Cần rất lớn trên con đường nghiên cứu Đạo học sau này.

Nguyễn Duy Cần sinh ra vốn là một cậu bé có thể chất ốm yếu, khó nuôi nên cha ông cho ông theo làm con nuôi một cha Đạo người Pháp ở nhà thờ Mỹ Tho và ông được cho làm lễ rửa tội theo Đạo Thiên Chúa với tên thánh bổn mạng là Jacob, nhờ bước ngoặc này mà thời niên thiếu ông có cơ duyên tiếp xúc sớm với văn hóa Pháp thông qua sự dạy dỗ của cha Đạo, ông được học giáo lý Công Giáo, học Thánh Kinh cũng như học đàn, vẽ với các cha Đạo người Pháp và tất nhiên là học toàn bộ bằng Pháp ngữ.

Hàng ngày, sau giờ học ông lại say mê đọc các sách về thần học và văn hóa nghệ thuật Pháp và phương Tây trong thư viện của nhà thờ. Vì tiếp xúc với văn hóa Pháp sớm lại là người say mê đọc sách, học hỏi nên ông thừa nhận mình bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp, như ta thấy ông thừa nhận trong phần lời nói đầu quyển Tôi tự học: “…Guitton, Jules Payot, Gustave Rudler, là những học giả mà tác giả đã chịu nhiều ảnh hưởng nhất,…” hay trong Dịch kinh tường giải ông nói: “…Pháp ngữ là văn tự của văn minh cao nhất đại diện cho văn hóa La Tinh”, về sau trong các tác phẩm biên khảo của mình ta thấy ở phần tài liệu tham khảo ông ghi các tác phẩm ông nghiên cứu có đến 80 phần trăm là tài liệu bằng Pháp ngữ.

Sự nghiệp nghiên cứu và trước tác của Nguyễn Duy Cần bắt đầu từ năm 1931 với việc xuất bản quyển Triết học đầu tiên "Toàn chân", gây nên một cuộc bút chiến sôi nổi trên báo Mai. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục cho xuất bản các tác phẩm khá đều đặn. Năm 1935, ông cho ra đời quyển sách đầu tay: Duy tâm và duy vật.

Năm 1937, ông Nguyễn Văn Tâm sáng lập ra Tạp chí Nay, giao cho con trai là Nguyễn Duy Cần làm chủ bút kiêm quản lý. Lúc bấy giờ ở Mỹ Tho có nhiều tờ báo xuất bản tại địa phương, hầu hết dưới dạng tạp chí, có tờ ra định kỳ, có tờ ra không định kỳ và thường không kéo dài như: Chiêu Anh văn tập, Đông phương tạp chí, Tiểu thuyết tuần san,... Tạp chí Nay của Nguyễn Duy Cần sống lâu hơn, ra được 15 số (số 1 ra ngày 1 tháng 6 năm 1937 và số cuối cùng ra ngày 15 tháng 7 năm 1938).

Tạp chí Nay là một tạp chí văn chương, triết học, khoa học, y học, xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, mang tính chuyên nghiệp cao. Báo thường xuyên có các bài luận thuyết về triết học của Thu Giang và nghiên cứu về văn học của Nguyễn Phi Oanh, về tâm lý học của Tùng Chi, về y lý Đông - Tây của Vũ Trang,... và nhiều mục thường xuyên khác như: Học chữ Hán, Đạo đức kinh, Ẩm thực học, Tin Văn, Chuyện lặt vặt nên biết qua,… Đặc biệt, mục Thời cuộc thế gian đăng tin tức quan trọng ở trong nước, Đông Dương và Âu Tây. Với bút hiệu Thu Giang, chủ bút Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều cho tạp chí này. Ông có mặt thường xuyên ở mục triết học Đông - Tây và mục văn chương k

Ratings & Reviews

What do you think?
Rate this book

Friends & Following

Create a free account to discover what your friends think of this book!

Community Reviews

5 stars
60 (62%)
4 stars
21 (21%)
3 stars
12 (12%)
2 stars
2 (2%)
1 star
1 (1%)
Displaying 1 - 13 of 13 reviews
Profile Image for Anh.
98 reviews11 followers
November 28, 2017
Trang Tử viết: "Có nơm là vì cá, được cá hãy quên nơm/ Có dò là vì thỏ, được thỏ hãy quên dò/ Có lời là vì ý, được ý hãy quên lời/ Ta tìm đâu được người biêt quên lời, hầu cùng nhau đàm luận."

Xin mạo muội chế lại lời người xưa: Review là cốt để đọc sách thêm phần vui thú. Được vui thú rồi, hãy quên truyện viết review. Thời buổi nhà nhà viết lách, tui tìm đâu được người đọc sách mà không màng review, hầu khỏi phải đàm luận làm gì cho mệt óc.
Profile Image for Dang Minh Ngoc.
924 reviews43 followers
May 23, 2025
Trang Tử tinh hoa by Thu Giang Nguyễn Duy Cần

Giới thiệu nội dung

Trang Tử Tinh Hoa là cuốn sách được tác giả Thu Giang
Nguyễn Duy Cần dịch và viết lại từ những ghi chép, bài học về Văn Minh của Trang Tử - một triết gia theo lý thuyết Đạo giáo Trung Hoa.

Nguyễn Duy Cần (1907 - 1998) có hiệu là Thu Giang, là một trong những học giá, nhà biên kháo kỳ cựu bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20. Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tâng lớp thanh niên trí thức.

Ông làm nghề y, nghề giáo, viết sách, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang, Hoàng Hạc,
Bảo Quang Tử... Ông từng là giáo sư của trường Đại học
Vạn Hạnh và là trưởng khoa Triết Đông của trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn TP.HCM).

Sinh thời Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều sách, chủ yếu là sách biên khảo, nghệ thuật sống (lúc bấy giờ gọi là sách "học làm người") và Đạo học phương Đông. Những tác phẩm của ông được viết không nhằm mục đích
"sống với câu chữ", mà đa phần do sự đòi hỏi bức thiết
của cuộc sống. Ông cảm thấy những đề tài mình nên viết là những điều mà xã hội đang còn thiếu thốn và nhiều tâng lớp dân sinh đang mong đợi. Điều đáng tiếc là có nhiều tác phẩm của ông chưa được công bố, bị thất lạc hoặc chưa được hoàn thành. Mặc dù vậy, những tác phẩm đã xuất bản luôn được các thế hệ bạn đọc đón nhận và thường được tái bản nhiều lần. Bạn có thể biết đến ông qua các tác phẩm: Thanh Dạ Văn Chung, Cái Cười Của Thánh Nhân, Cái Dũng Của Thánh Nhân, Một Nghệ Thuật Sống, Tôi Tự Học, Óc Sáng Suốt,
Thuật Tư Tưởng, Thuật Xử Thế Của Người Xưa, Thuật Yêu Đương, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Phật Học Tinh Hoa...

Tổng quan

Mở đầu Trang Tử Tinh Hoa, học giả Nguyễn Duy Cần (có hiệu là Thu Giang) viết: "Văn minh mà thiên hạ ngày nay đang tôn sùng và đeo đuổi là một thứ văn minh lượng, lấy sự tiến bộ làm lý tưởng; còn văn minh của Trang Tử chủ trương là một thứ văn minh phẩm, lấy sự tận thiện làm lý tưởng. Hai thứ văn minh ấy có nhiều điểm bất đồng, rất khó mà dung hòa với nhau được. Cho nên, có kẻ cho rằng, đem tư tưởng Trang tử mà nói ra buổi này, phải chăng sẽ không bổ ích gì cho thiên hạ phần đông, có khi là một việc làm trái thời là khác nữa...".

Quả thật, tư tưởng của Trang Tử vốn bị coi là đại diện huyền vi, khó hiểu của dịch học và thuật bói toán. Cho nên, không ngạc nhiên khi xuất hiện tranh luận rằng, liệu những tư tưởng đó có khả năng trở thành văn minh - bộ tri thức chung xứng đáng để nhân loại tin tưởng và theo đuổi?

Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã dịch và viết lại những ghi chép trọng yếu nhất của học thuyết
Trang Tử. Công trình này hứa hẹn truyền tải được sự giản dị, chất phác nhưng cũng rất thâm trầm, sâu xa của một trong những hiện tượng tiêu biểu của Đạo học phương Đông.

Nội dung thứ nhất: Vì sao học thuyết của Trang Tử thường bị cho là khó hiểU?

Hầu hết mọi người cho rằng học thuyết của Trang Tử khó hiểu vì nó thuộc về cái học "bất nhị" trong khi phần đông chúng ta lại theo tư tưởng nhị nguyên, tức là phân chia sự vật trong đời thành hai phần biệt lập, luôn luôn đối chọi, tiêu trừ lẫn nhau, như: chủ quan và khách quan, tốt và xấu, lành và dữ, vật và tâm, tĩnh và động,... Họ không thể hiểu được mọi lẽ phân chia ấy đều có thể dung hòa với nhau mà tồn tại.

Học thuyết Trang Tử thì nhìn nhận tâm và vật, phải và trái, đúng và sai, tĩnh và động đều là hai trạng thái của mọi sự vật. Vạn vật đều do sự cọ xát của hai trạng thái đối nghịch ấy mà tồn tại, mất đi một phần thì phần còn lại cũng không thể nào xuất hiện. Ví dụ: m không phải thuần m, và Dương cũng không phải thuần Dương. Trong m có Dương, trong Dương có m. m cực thì sinh Dương, mà Dương cực thì sinh m. Giữa hai lẽ m - Dương ấy luôn có một sự kết nối bền chặt, khiến chúng không thể tách bạch khỏi nhau. Theo Trang Tử, cái kết nối vô hình đó chính là Đạo. Nếu như nguyên lý thứ ba này vắng mặt thì vạn vật trên đời cũng theo đó mà tiêu tan.
Với ý nghĩa đó, con người cũng là sản phẩm của hai nguyên tắc mâu thuẫn ấy. Chỉ khi nào nhận ra được sự biến hóa khôn cùng và nguyên lý vận động của hai trạng thái đối nghịch, vừa tích cực vừa tiêu cực, vừa đồng đẳng với nhau về giá trị như thế, con người mới thực hiện được sự tổng hợp quân bình toàn diện. Đó cũng là đích đến của hành trình tìm kiếm chân lý của Đạo trong học thuyết Trang Tử.

Có thể nói, tư tưởng của Trang Tử không phải là một loại triết học xơ cứng mà là "Huyền học" ', nghĩa là cái học làm cho người đồng nhất với trời. Vì vậy, tư tưởng của Trang Tử không phải để "học" mà là để "hành", để khám phá chỗ liền lạc mật thiết của vạn vật.

Thế nên học giả Nguyễn Duy Cần đã đưa ra lời khuyên chân thành rằng: "muốn hiểu rõ học thuyết Trang Tử, cần phải dùng trực giác, không thể dùng lý trí". Bởi nếu dùng nhãn quan của lý trí, ta sẽ khó tránh khỏi lối tư duy nhị nguyên, chia tách vạn vật thành hai phía đối trọng.

Nội dung thứ 2: "Đạo" là tâm điểm học thuyết của Trang Tử.

Trong tác phẩm Nhập Môn Triết Học Đông Phương, Thu Giang Nguyễn Duy Cần cho rằng Đông phương không hề có triết học theo đúng nghĩa đen của nó mà chỉ có Đạo học. Bắt rễ từ cái nôi văn minh của người Trung Quốc thuở ban sơ, học thuyết Trang Tử cũng không nằm ngoài chữ "Đạo" .

"Đạo" là nguyên lý cơ bản để giúp chúng ta hiểu về tư tưởng của Trang Tử và Lão Tử -. những đại diện tiêu biểu cho Đạo học. Nếu không hiểu về "Đạo" mà chỉ đọc và suy xét từ những diễn giải trưng trổ của các nhà phê bình học thuyết Trang Tử thì chúng ta sẽ khó nắm bắt được tinh thần của nó.

"Đạo", , theo Trang Tử, là Cái Sống chung với trời đất. Cái Sống ấy là chân lý tuyệt đối, vô hạn và toàn mãn. Nó tồn tại trong vạn vật, từ hoa lá cây cỏ, chim muông thú vật, thời tiết bốn mùa cho đến trong chính con người. Đạo chảy tràn và bao phủ khắp thế gian, luôn luôn biến đổi, luôn luôn vận động.
Bất kỳ vật nào sống trong trời đất đều mang trong mình cái Đạo ấy, gọi là Tánh. Nói cách khác, Tánh cùng với Đạo là một thể. Phận sự duy nhất của vạn vật không phải là đi tìm kiếm những giá trị phù phiếm bên ngoài mà là quay về với cái Tánh - cũng là cái Đạo của mình, rồi theo nó mà sống. Với Trang Tử, quá trình trở về với bản thể này gọi là "phản kỳ chân" hay "phục kỳ bản".
Sống thuận với Tánh (hay với Đạo) thì cái mà mình gọi là "làm" không phải do "mình làm" mà là "cái Đạo nơi mình làm", ', nghĩa là cái làm của vô ngã. Cho nên hành động đó được gọi là "hành động vô vi". Vì vậy, "vô vi" không phải là "không làm" mà chính là hành động của vô ngã, của Tánh, làm theo trời chứ không làm theo người, làm theo Thiên Tánh chứ không làm theo Tư Ngã. Ở đời, kẻ nào sống thật với cái Tánh tự nhiên của mình thì xứng đáng gọi là chân nhân. Với Trang Tử, Cái Sống vô ngã ấy mới là mục đích cuối cùng của đời người.

Nội dung thứ 3: "Nền Văn Minh toàn thiện" của Trang Tử.

Bản thân "vô vi" mang hai nghĩa: một là không làm những gì trái với cái tự nhiên trong nội tại; hai là tiêu trừ những gì có thể gây trở ngại cho sự phát triển tự nhiên của bản tánh. Theo lẽ đó, những cái mà Trang Tử kịch liệt phản bác là mọi lối chính trị, chế độ, luân lý... - những điều mà theo ông là gây nguy hại đến sự phát triển tự nhiên của bản tánh con người.

Hầu hết những nền văn minh mà loài người đã xây dựng từ xưa đến nay đều được tạo dựng từ nền tảng nhị nguyên. Những giá trị mà chúng mang lại chỉ để thỏa mãn và nâng cao bản ngã. Sâu xa hơn, những thứ văn minh ấy đã đi đến chỗ phủ nhận "bản thể toàn năng toàn lực của cá nhân" và chạy theo để kiến tạo "bản thể toàn năng toàn lực của người khác"

Chẳng hạn như, con người thấy mình thiếu thốn thường là đang yêu thích điều mà người khác có, còn mình thì không. Họ mong có được quả tim rộng lượng hay trí tuệ uyên bác của người khác, điều đó vô tình lại tạo nên hiện trạng "người bóc lột người". Có người chịu cho kẻ khác giúp để rồi có kẻ làm ân nhân của mình. Nhân đó, kẻ kia dựa vào ơn đức đã trao mà đè đầu cưỡi cổ người được giúp, khiến họ không thể không làm theo chuyện sai khiến. Thế nên, sở dĩ có kẻ bóc lột là vì có người chịu để người khác bóc lột mình.

Phản bác những luân lý đó, Trang Tử hướng đến một nền Văn Minh toàn thiện, nghĩa là kêu gọi mọi người quay trở về sống theo đúng bản tánh, sự toàn thiện của mình, không đèo bòng ham muốn sự viên mãn của kẻ khác. Văn Minh mà ông tôn thờ định hướng con người đến sự tôn trọng những bản tánh tự nhiên của người khác và ung dung tự tại với Cái Sống của riêng mình. Mỗi người là hạt cát giữa vũ trụ.

Vạn vật trên đời đều được trời quy định cho bản tánh; vật nào cũng có cái tận thiện của mình. Vì vậy, không nên áp đặt một mẫu thức chung để mọi người triệt tiêu sự tận thiện mình. Vì vậy, không nên áp đặt một mẫu thức chung để mọi người triệt tiêu sự tận thiện riêng ấy mà tuân theo sự tận thiện lý tưởng mơ hồ kia. Điều quan trọng nhất là mỗi người, mỗi vật cần được sống tự do, thực hiện triệt để được sự tận thiện của mình. Đó là đích đến cuối cùng của Trang Tử và cũng là nền tảng để đời sống vũ trụ được muôn hình muôn trạng, đa dạng phong phú đến vô cùng.

Bạn thân mến, khởi phát từ hàng ngàn năm trước nhưng cho đến nay, những tư tưởng mà Trang Tử đã xác lập vẫn không hề lỗi thời. Trên con đường khai mở trí tuệ cho nhân loại, học thuyết Trang Tử vẫn đã và đang hoàn thành sứ mệnh hướng con người đến một hình thức tư duy toàn diện hơn khi nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng của đời sống.

22.05.2025
N

24 reviews
Read
July 3, 2022
Trang tử tinh hoa

Tinh hoa của trang tử nói về cái tánh phận riêng của từng cá nhân, không có cái thiện nào là tận thiện, cái nào là tận ác, điều này đúng với cái này nhưng sẽ không đúng với các khác. Không có Đạo nào là tuyệt đối, là tận thiện cho muôn loài, mỗi cá nhân chỉ nên sống đúng với cái tánh của mình, không nên đi truyền đạo của mình cho người khác, bởi vì đồng thinh tương ứng đồng khí tương cầu, nếu thuộc về cái tánh thì nó tự ứng!. Một cái cây dù cao lớn bao nhiêu thì cũng xuất phát từ 1 cái hạt giống và cuối cùng sứ mạnh của nó trước khi chết cũng là sinh ra được 1 hạt giống cội nguồn như vậy, cho nên tìm về được cái tánh phận của mình là mục tiêu cao nhất của đời người.

1. Tiêu Diêu Du (tự do tuyệt đối)
- Người đời thường bảo: “Không tự do thà là chết” - Tự do mà còn phải bị ràng buộc như thế sao còn gọi được là tự do. Lớn nhỏ tuy khác nhau nhưng tiêu diêu vẫn một. Định cho vật này là lớn, vật kia là nhỏ, thật chưa bik lấy chỗ nào làm tiêu chuẩn nhất định đặng. Con chim Cưu và con chim Bằng không có cái chí của con vật nào là cao hơn con vật nào cả. Cho nên chịu chỗ nhỏ của mình mà không tự cho là lớn, luôn luôn thấy mình là đủ và “thích kỷ tự an” mới diệt bỏ được cái bụng đèo bòng, cái lòng tham muốn về cái phận ngoài mình. Lòng tham muốn không còn thì hạnh phúc có ngay liền đó, hạnh phúc sống được cái sống của mình, sống toại sinh trong cái tự tánh vô cùng vô tận của mình vậy. Lòng tham muốn của con người sở dĩ có là khi nào đem tâm đeo đuổi theo cái tánh phận bên ngoài cái tánh phận của mình. Vật lớn thì ở chỗ lớn và sống lâu, vật nhỏ thì ở chỗ nhỏ và chết yểu, đều là cái tánh phận của riêng mỗi vật, không thể nào không như vậy cho được. “Đời có khen cũng không thêm cho mình, có chê cũng không bớt cho mình, đó là vì đời còn định cái phận trong ngoài, phân cái cảnh vinh nhục mà ra vậy”. “ Trời đất lấy vạn vật làm cái thể, còn vạn vật lấy tự nhiên làm cái chánh”. Không có vật nào là hữu dụng hay vô dụng cả, hữu dụng hay vô dụng là tại chỗ dùng của mình trúng chỗ cùng không mà thôi. “Đâu vừa với đó”

2. Tề Vật Luận (bình đẳng tuyệt đối)
- Vấn đề phải quấy, tốt xấu: quấy đối với ta, nhưng biết đâu nó vẫn phải, đối với kẻ khác; phải đối với ta nhưng mà nó quấy đối với kẻ khác. Cái phải của ta bây giờ, biết đâu rồi đây sẽ không còn là phải nữa, huống chi đối với mọi người. Không có cái gì là phải quấy. Không có cái gì là phải quấy có thể đem ra làm tiêu chuẩn cho thiên hạ được - “Người ta ở dưới bùn thì đau ốm. Con cá chạch có vậy không? Người ta ở trên cây thì run sợ, con khỉ có vậy không? Đâu là chánh xử? Người ăn thịt thà, hươu nai thì ăn cỏ, diều quạ ăn chuột….đâu là chánh vị? Mao Tường, Lệ Cơ là chỗ mà người ta cho là đẹp, còn cá thấy thì lặn, chim thấy thì bay cao, nai thấy thì chạy dài. Đâu là chánh sắc?” - Mỗi vật đều có cái đẹp riêng theo nó, cho nên không có cái đẹp nào là cái đẹp mẫu cho tất cả mọi vật, không có cái thiện nào có thể đem ra làm gương tận thiện cho tất cả mọi người -> không đặng cưỡng ép thiên hạ phải đồng, mọi vật trong đời không vật nào là không đẹp -> “Phải cũng là một lẽ vô cùng, quấy cũng là một lẽ vô cùng” - “Ta với ngươi tranh biện. Ngươi thắng ta, ta không thắng ngươi. Quả ngươi phải sao? Quả ta quấy sao? Quả ngươi quấy sao? Trong hai ta, có người phải hay sao? Có người quấy hay sao? cả hai đều phải chăng? cả hai đều quấy chăng? Nếu không thể chấp theo 1 ý kiến nào và cho đó là phải, thì ra dưới trời ý kiến nào của con người cũng đều phải hết. Thảy đều phải hết, thì đây đó chịu nhau, cần gì phải tranh biện làm chi nữa. Đây và đó đều đồng nhau, dĩ bất biến ứng vạn biến”, phải quấy chẳng qua như một cái vòng tròn, không thể biết chỗ nào phải, chỗ nào quấy. Xử kỷ theo một cách, còn tiếp vật theo một cách, là để vừa hoà với đời, vừa giữ gìn bản tánh của mình, đó gọi là “lưỡng hành”.
- Vấn đề sanh tử: sanh tử là một. Trong trời đất, chỉ có cái sống thôi, cái sống ấy không có sanh nên cũng không có tử. Sanh và tử chỉ là những hình thức biến hoá mà thôi, cũng như lửa với củi. Chết, chẳng qua là tự hình thức của một vật tồn tại này chuyển sang hình thức của một vật tồn tại khác. Khi sắp đổi cảnh thay hình…vẫn cũng dùng dằng khóc lóc thì mê muội đến thể kể cũng là cùng tột rồi vậy! “ Gặp hình người mà vui riêng với đó. Mà hình người là gì? Hồi vị thuỷ trong vô cực, theo vạn hoá mà có nó ra. Vậy vui với cái đó, nhận riêng nó (mà không nhận cái khác), có phải lẽ không?” Chúng ta đi trên con đường biến hoá của trời đất không khác nào một du khách. Cảnh nào cũng mới, chỗ nào cũng đẹp. Nhưng không cảnh nào buộc trói mình được - “an theo thời xử theo phận thì buồn vui không vào đặng cõi lòng” “ thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi”
- Ta và vật: “Xưa Trang Châu chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự nhiên thích chí không còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu. Không biết Châu, lúc chiêm bao là bướm hay bướm, lúc chiêm bao là Châu. Châu cùng bướm ắt có phận định” Người mà còn bận mắc trong vấn đề lớn nhỏ, hơn kém, thị phi, vinh nhục…là chưa có thể cùng bàn đến tự do với họ được nữa.

3. Dưỡng Sinh Chủ
- Dưỡng sinh có 2 mặt: dưỡng cái sống “có sống có chết” (thân thể ta) và dưỡng cái sống “không sống không chết” (tinh thần ta). Trong và ngoài là hai điều không thể lìa nhau. Sống với thể gì thì vui dưỡng với thể đó. Một tinh thần không loạn là mới có được một thân thể không đau, hay những kẻ có một thân thể không đau vì họ khéo giữ tinh thần không loạn. Trong các mối tư lự, không có mối nào nguy hại hơn là mối so đo hơn kém về cái phận ngoài mình, nó không biết đâu là bờ bến, mà sinh lực ta thì có hạn, đem cái có hạn mà phụng sự cái vô hạn là nguy vậy.
- “Chỉ có con người là biết sợ chết mà thôi. Cho nên chỉ có con người là con vật đau khổ nhất trên đời”. Lòng ham sống sợ chết không còn thời tinh thần ta mới không náo loạn. “Vui đến là thời, vui đi là thuận. An thời và xử thuận, buồn vui không vào đặng cõi lòng, đó là huyền giải”. giữ gìn cái sống “không sống không chết” ấy, đừng để nó vì tư duy mà đèo bòng ham muốn những cái ngoài phận mình, đó là không làm cho nó lu lờ mai một. Người khéo dưỡng sinh như người chăn chiên, thấy con nào lẻ bầy, thì quất nó cho nó trở về bầy.
- Gặp nơi tử địa, anh em cha con còn biết sợ sệt răn bảo nhau đừng bước vào. Còn như trên chăn chiếu

4. Đức Sung Phù
- Bậc Thánh nhân không dùng lời nói mà dạy người, là vì lời nói không thể dùng để tả “cái điều có thể cảm mà không thể nói ra” được như lẽ Đạo. Nói ra được không phải là cái thường của Đạo. Không ai biết được cái thuật ấy hơn mình, cho nên không ai làm thầy mình được hơn là cái Tâm của mình cả. Cho nên cũng thời một câu sách, đối với ta, nó có một sức mạnh khêu gợi phi thường, có thể đổi được cả một đời tư tưởng ta, mà đối với kẻ khác nó không có chút gì làm động tâm được cả? Mỗi người đều có cái Đức của mình thọ lãnh của Đạo, và phận sự duy nhứt của mỗi người là giữ gìn cái Đức ấy nơi mình cho đầy đủ, nghĩa là lo sống cái Sống ấy một cách triệt để và nuôi dưỡng nó được sung mãn nơi trong….thì tự nhiên cái Đức ấy ứng hiện ra ngoài một cách rực rỡ. Cái Đức của mỗi vật, tức là cái tánh tự nhiên của nó, cái bất đắc dĩ phải làm như thế, không thể không làm như vậy cho đặng. Tức cái đức của mặt trời là sáng và nóng, cái đức của giá là lạnh, của hoa là thơm…Mặt trời mà muốn giúp ích đời, không cần phải làm cái gì khác hơn là làm cho cái Đức mình đầy đủ, rồi thì không vì ai mà chiếu giọi, nhưng ai ai cũng nhờ đó mà thấy rõ mọi vật. Nếu mặt trời không lo sống đầy đủ cái sống của mình, không lo làm cho Đức mình được hoàn toàn đầy đủ, lại mong đi giúp đời, giúp cho mỗi vật đặng hạnh phúc, thời phỏng có ích gì cho đời không, mà đời lại mất cả yếng sáng của mặt trời.

5. Đại Tông Sư
- “Giữ tâm ngươi cho điềm đạm, khí cho điềm tịnh, thuận theo tự nhiên của vật mà không theo ý riêng của mình, thì thiên hạ trị vậy”
Profile Image for Trinh Nguyen.
75 reviews30 followers
February 1, 2015
Được cái nhìn sơ lược về đường hướng tư tưởng Trang Châu.
Profile Image for Hang Tran.
104 reviews2 followers
October 9, 2025
Đọc đến đoạn Trang Tử bàn về cái “chánh 正” trong Tiêu Dao Du, mình thấy rất tâm đắc. Mỗi người, mỗi vật đều mang trong mình một năng lực tự nhiên, một món quà mà trời đất đã ban sẵn. Nếu cứ mãi mong cầu những điều quá xa, vượt quá khả năng, thì chẳng khác nào tự đẩy mình vào khổ não. Biết đủ mới có thể an lạc. Điều này lại gợi cho mình nhớ đến lời dạy của Đức Phật: hạnh phúc thật sự nằm trong sự tri túc.

Nhiều khi mình nhận ra, cái cảm giác bất an, tự ti vốn dĩ không đến từ bản thân, mà từ thói quen so sánh. Ta quên mất rằng ai cũng được trời trao cho một tính tự nhiên khác nhau: có người mạnh ở điều này, kẻ giỏi ở điều kia. Đem cái yếu của mình đối chiếu với cái mạnh của người khác thì buồn tủi chắc cũng là lẽ thường tình.

Giống như khi nhìn vào lá số tử vi hay bản đồ sao, ta sẽ thấy rằng mỗi cá nhân là một bầu trời riêng biệt, không trùng lặp, có xu hướng phát triển và những bài học khác nhau. Thế nên, quan trọng không phải là cố gắng trở thành ai đó, mà là nhận ra bản tính của mình để sống thuận theo nó.

Bởi chỉ khi thật sự hiểu và chấp nhận chính mình, ta mới có thể phát huy trọn vẹn những năng lực vốn đã nằm sẵn trong ta từ thuở ban đầu. - “Một nghịch lý lạ kỳ là: khi tôi chấp nhận bản thân mình, thì khi ấy tôi chuyển hoá” (Tiến trình thành nhân, Carl Rogers)
Profile Image for Bảo Nguyễn.
93 reviews5 followers
June 2, 2023
- Tóm tắt lại một số ý tưởng chính trong phần nội thiên của Trang Tử Nam Hoa Kinh
- Phần phụ lục hay, viết về: chân nhân, Trang và Lão, Trang và thuyết tiến hóa
- Cái thiên hạ xem là thương người, giúp đời phải chăng tựu chung đều có cái ý đem tất cả người đời đều cùng theo một quan niệm tư tưởng tình cảm như ta, ai ai cũng chỉ tin rằng “Đời đục cả một mình ta trong; đời say cả một mình ta tỉnh”
- Mình có thể là người có ích cho đời nhưng không phải là người nhu thiết cho đời. “Có mợ, chợ cũng đông; không mợ, chợ cũng không không buổi nào”. Đời sở dĩ loạn chẳng phải do thiếu người lo đời mà thực sự phải chăng vì đã có quá nhiều kẻ lo đời
Profile Image for Liên Phương.
134 reviews5 followers
September 2, 2025
Các đặc điểm của chơn nhơn:
1. Hạng người vô kỷ, vô công, vô danh.
2. Không động lòng trước tất cả những biến cố buồn vui xảy ra trong cuộc đời.
3. Sống tự nhiên, thành thật, không giả dối.
4. Sống tự do, không trói buộc mình vào hệ thống luân lý, đạo đức, tôn giáo.
5. Không thần tượng bất kỳ ai.

Phải đọc thêm cuốn Trang Tử Nam Hoa Kinh nữa thì chắc may ra mới hiểu được cơ bản về học thuyết của Lão Trang.
Profile Image for Hoai Thu.
33 reviews
December 27, 2018
Thu Giang là học giả am hiểu cả Hán học lẫn Pháp văn, tuy nhiên dường như phần Pháp văn của ông chỉ dùng để thuyết minh cho lý thuyết Lão Trang của ông, số lượng tác giả và tài liệu trích dẫn ít. Lập luận trong sách khs thừa thãi và lặp đi lặp lại.
Profile Image for Nhun Nhun.
53 reviews6 followers
June 18, 2018
3.5*
Đọc nhiều đoạn diễn giải của tác giả mình không thích, dù những đoạn trích dẫn từ Nam Hoa Kinh thì mình lại thấy rất hứng thú, cuốn hút
Profile Image for Eternalrain88.
40 reviews
June 3, 2019
Cuốn này chỉ là lặp lại những phần trog Trang tử Nam Hoa Kinh (cùng tác giả)
Profile Image for Huy Eco.
60 reviews20 followers
May 13, 2017
Mình chưa đọc Nam Hoa Kinh nên khi đọc xong cuốn sách này mình chỉ có thể chú ý tới vài điểm trong học thuyết của Trang Tử mà cụ Cần có nhắc tới nên . Đây hoàn toàn là ý của mình, nếu có gì sai lệch với tư tưởng của Trang Tử xin mọi người chỉ giúp:
- Đi sâu vào bên trong, biết mình là ai và đời mình sẽ phải đi đâu về đâu?
- Cái chết và sự sống là một và không mâu thuẫn nhau. Quá thiên về lý trí thì lý trí phủ nhận ý nghĩa cuộc sống, coi cuộc sống là vô nghĩa, ham chết ghét sống, coi việc tự sát là cứu cánh cho lý trí của mình. Quá thiên về dục vọng thì bỏ qua ý nghĩa cuộc sống, ham sống sợ chết, coi hưởng thụ khi còn sống là mục đích, tìm những phương cách trường sinh làm cứu cánh cho sụ sống dài lâu hòng bồi thêm cho dục vọng của mình khi cái chết đến gần. Trang Tử cho rằng chết và sống không mâu thuẫn với nhau mà chính là một, khi hiểu mình và hiểu đạo trời, mình với đời hòa làm một, vui theo nhịp điệu quy luật của nó.
- Cái văn minh dựa trên nền tảng lạc lầm bản ngã thì làm sao cũng đòi hỏi hòa bình được? Vừa khêu gợi dục vọng trong quần chúng, ở đầu kia thì "vẽ" ra luân lý, đạo đức, pháp luật để răn để người. Kẻ ăn trộm cái bánh mì thì xử tử, người "trộm" được cả thiên hạ thì gọi là vua, nói theo ngôn ngữ hiện đại là Thành Công.
- Người đời chỉ nơm nơm lo sợ thiên hạ không ai biết đến tên tuổi nhỏ nhoi của họ, dù tư tưởng của họ có bệnh hoạn đi chăng nữa, tự giác mới nên giác tha. Mình có thể hiểu mình, có thể trở thành người có ích nhưng mình không phải là kẻ cần thiết không thể thiếu, thiếu mợ thì chợ vẫn đông.
- Cái danh dự, cái đáng tự hào nhất của con người, là ngoài mình ra không ai giải thoát cho mình được cả. Trước những lời hứa hẹn giải thoát từ bên ngoài vào, cần hết sức cẩn thận.
Profile Image for Thai Son.
285 reviews60 followers
August 24, 2015
Nghiên cứu sâu và bao quát, lời lẽ trong sáng dễ hiểu, tuy có chút gượng ép ở một câu cú, nhưng không làm hỏng tính thống nhất và cũng không thống nhất của sách

sách được đọc trong 2 ngày, minh chứng của việc viết tốt
Displaying 1 - 13 of 13 reviews

Can't find what you're looking for?

Get help and learn more about the design.