Cỏ yếu lắm, không có tiếng kêu hay là có mà không thể nghe thấy. Và mùi thơm mong manh cũng bị lẫn chìm vào mùi đất ẩm, như hơi nước lên không. Ngọn cỏ này chết đi, đã có ngọn cỏ khác chồi lên thay, che lấp hẳn cái xác đứt, nát và mục dần ra đất… Thế cũng là một kiếp người.
Hoạ sĩ Lê từng sống một cuộc đời đúng nghĩa là đời thừa với những buông mình ăn chơi trác táng nơi phố thị. Chỉ tới khi gặp Hoàng, cô gái tỉnh lẻ mong manh nhưng cố hữu kiên cường, tựa tia nắng le lói cuối ngày đông, cuộc đời tăm tối của Lê mới như được sưởi ấm lại. Những quan tâm đặc biệt, những dòng thư tay nắn nót đã khiến hai tâm hồn đơn côi, lắm nỗi đa đoan ấy có cơ hội tỉnh thức và xáp lại gần nhau.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Liệu căn bệnh hiểm nghèo và những định kiến xã hội có phải là nguyên nhân khiến Hoàng ra đi trong cô độc và đau đớn hay chính sự do dự của Lê mới thực sự làm nên tất thảy những nỗi ân hận dai dẳng mãi về sau?
Ông tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương.
Xuất thân trong một nhà giáo nền nếp, thuở nhỏ, từ năm 1938, ông học tiểu học ở Hà Nội, từng vẽ tranh để kiếm sống. Từ những năm 1940, ông tham gia viết báo, viết văn và thường được đăng tải trên Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm và Truyền bá quốc ngữ... Ông từng thử sức trên nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Thơ Thâm Tâm có nhiều giọng điệu, khi buồn da diết, khi trầm hùng, bi tráng, khi reo vui...
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Thâm Tâm tham gia văn hóa Cứu quốc, ở trong Ban biên tập báo Tiên Phong (1945-1946), sau đó ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (sau là báo Quân đội Nhân dân).
Ông mất sau một cơn bệnh đột ngột ngày 18 tháng 8 năm 1950 trên đường đi công tác trong chiến dịch Biên giới, được đồng đội và nhân dân địa phương mai táng tại Bản Pò Noa, Xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Thâm Tâm nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Sinh thời ông chưa in thơ thành tập. Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm.
Ngoài ra, Thâm Tâm còn có 3 bài thơ Gửi T.T.Kh., Màu máu Tygôn, Dang dở. Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho thi sĩ bí ẩn T.T.Kh. trong năm 1940. Trong các bài thơ, ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh. Một số người còn cho rằng chính ông là T.T.Kh. Tuy nhiên, vẫn không ai biết chính xác là như thế nào.
Thâm Tâm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
Đọc xong cuốn này mới thấy thấm thía 2 câu tục ngữ (ca dao) các cụ nói: - Nhàn cư vi bất thiện - Mấy đời bánh đúc có xương. Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng Một câu chuyện buồn nhưng đẹp, hoài niệm, phản ánh chi tiết xã hội thời bấy giờ.