“Con người ta vì sao phải về nhà? Đâu là nhà? Gã trở về, không phải để cứu chuộc, không phải để sám hối, không phải để tìm kiếm lời giải đáp. Hồi hương không phải nghĩa vụ, hồi hương khiến gã ngạt thở. Nhưng gã phải về.
Bởi vì, quả thực chẳng còn nơi nào để đi cả.”
-
Trong tiếng Anh, “ghost” vừa là ma, vừa là quá khứ. “Ghost” vừa là những thực thể siêu linh trú ngụ trong mọi xó xỉnh tại thế gian, vừa mang nghĩa như những mẩu ký ức rời rạc, chắp vá, chồng lấn, va đập, khởi phát từ quá vãng và bám trụ mãi mãi ở thực tại. Khi đọc Vùng đất quỷ tha ma bắt, việc tái tạo ký ức, vốn là một chức năng nguyên thủy tồn tại vĩnh viễn trong cơ chế thành tạo nên một con người, bỗng chốc khiến mình hoảng sợ. Bởi nhân loại dường như không bao giờ có thể trốn chạy khỏi ký ức.
Rằm tháng Bảy, cái nóng như lửa thiêu đổ xuống mặt đất, xé toạc thời không rồi để lại một cái rãnh sâu hoắm để ma quỷ trườn lên từ địa ngục: ma nữ bị cưỡng hiếp thời Nhật thuộc treo cổ trong rừng tre, ma nữ ế già bên cây liễu, ma da trầm mình dưới lòng sông Trạc Thủy, người con gái tự cắt tay rồi trùm túi bóng lên đầu cho tới khi cạn máu, người đàn ông chết mòn sau miếu thiêng vì căn bệnh ung thư, gã thanh niên lập lòe trong cái nắng trưa, thiếu phụ cựa mình bên cái máy may trên sàn đá, người vợ điên gào thét trong căn phòng tối đen kín cửa - người người, ma ma, lẫn lẫn, lộn lộn, tất cả đều vật vờ và xám ngoét tựa những cái bóng sống - những dư ảnh nhạt nhòa được bện dệt từ ký ức, mỏi mòn bấu víu vào thực tại, ám rịt vào vùng quê Vĩnh Tĩnh - một cái hố chứa đầy những ma.
Được chồng lấn bởi nhiều giọng kể, Vùng đất quỷ tha ma bắt là hành trình lùng kiếm ký ức (hay giũ bỏ ký ức, song bất thành) của chín thành viên gia đình họ Trần, đặt bối cảnh tại một vùng quê điêu tàn ở huyện Chương Hóa, Đài Loan. Mang cái tên Vĩnh Tĩnh: “vĩnh” trong “vĩnh viễn”, “tĩnh” trong “an tĩnh”, người làng dựa vào đó hằng mong cầu một cuộc sống muôn đời bình an, song thực chất, càng ngụp sâu trong cái vẻ an ổn của làng, người ta sẽ càng chỉ thấy đớn đau và bi kịch. Bi kịch kết tủa từ những định kiến, hủ tục lạc hậu; bi kịch xô lấn trong những ganh ghét, đố kỵ, lọc lừa; bi kịch lây nhiễm bởi những sang chấn di truyền và để lại những vết loét xấu xí mà thời gian dường như cũng không có khả năng xóa bỏ.
Chín giọng kể được truyền phát từ chín điểm điểm nhìn, chín góc độ, chín câu chuyện, tuy nhiên, chính chúng lại thuần túy chỉ là những thanh âm bất nhất, váng động trong thinh không rồi vô tình trượt xa ra khỏi nhau. Giao điểm duy nhất mà chúng có là những ký ức tại quê hương Vĩnh Tĩnh, song vùng đất ấy lại đầy rẫy những khe nứt mà âm thanh một khi đã lọt vào thì không thể nào thoát ra trở lại. Chế độ phụ quyền, chứng ghê sợ đồng tính, mê tín dị đoan, phản bội, phóng túng, bạo lực, dâm loạn, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, thái nhân cách, tất thảy tạo nên một thứ lực ép vô tình chỉ càng khiến cho những khe nứt kia ngày một thêm toang hoác - toang hoác trên địa thế cảnh quan xuống cấp của làng và toang hoác ở những thiết chế gia đình, đạo đức, xã hội của người.
Khi viết Vùng đất quỷ tha ma bắt, Kevin Chen không cố gắng để truyền phát một thông điệp nào cụ thể. Theo ông, việc gợi nhớ và viết ra cũng tương tự như một liệu pháp điều trị, một cơ chế để có thể đối diện và chấp nhận những sang chấn. Ông “khuyến khích độc giả tự chìm đắm vào con chữ và diễn giải câu chuyện theo cách riêng của họ”. Biên giới của vùng đất quỷ tha ma bắt ông thiết lập, theo lẽ đó, vừa là của chính ông, vừa là của mọi người. Thiên tiểu thuyết vốn dĩ mang đậm những ẩn ức cá nhân, dần vượt thoát khỏi các rào cản văn hóa, thể loại, dễ dàng khơi gợi sự đồng cảm và đi sâu vào từng ngóc ngách tới trái tim của không ít độc giả.
Vùng đất quỷ tha ma bắt lựa chọn kết cấu phân mảnh, sử dụng điểm nhìn đa bội và giọng kể đa thanh để tái hiện những bi kịch chồng chất bi kịch tại một miền quê nghèo ở Đài Loan, nơi mà bạn bạn đọc Việt Nam nói riêng và độc giả châu Á nói chung cũng phần nào dễ dàng phóng chiếu nên hình ảnh quê hương bản xứ ghi đè lên những câu chuyện được kể, theo mình, cuốn sách đã có khả năng đề xướng những cuộc luận bàn muôn thuở về bản chất, vai trò, cũng như trách nhiệm tối quan trọng của gia đình trong việc định hình nhân cách con người.
Cuộc đời là một khối lập phương đa diện, những điều con người khát khao có thể dễ dàng khiến người ta vỡ mộng, những điều đẹp đẽ bên ngoài có thể đầy những nứt vỡ ở bên trong, những chi tiết tản mác, ngẫu nhiên song lại có sức nặng ngữ nghĩa dồi dào tới không tưởng. Nhiều người có khả năng vượt qua nỗi đau để trở nên đẹp đẽ, nhiều người chấp nhận sống một cuộc đời đổ vỡ vì nỗi đau, và nhiều người hoàn toàn có thể bị nỗi đau quật ngã.
Bi kịch cá nhân nép mình trong những nếp gấp của bi kịch gia đình, bi kịch gia đình ghi đè lên những bi kịch mang tính lịch sử xã hội. Đối với nhiều người, ở nhiều giai đoạn, cuộc đời có thể chỉ mãi ngập chìm trong bi kịch, đầy ắp bi kịch, ngạt thở bởi bi kịch. Đôi khi, gia đình không phải là nơi để trở về để xoa dịu mọi nỗi đau thương. Đôi khi, gia đình lại chính là cội nguồn thương đau và là nơi khởi điểm của những vết thương khủng khiếp nhất. Đó là sự thật mà chúng ta, dù đau đớn, cũng phải đau đớn chấp nhận.
Khi gấp lại những trang cuối cùng của Vùng đất quỷ tha ma bắt, dường như, một phần nào đó trong mình vẫn đang kẹt lại tại Vĩnh Tĩnh, kẹt lại ở căn hộ ba tầng với cái máy may rền rĩ cả ngày, ở một trạm đăng ký hộ tịch tại Đài Bắc, nơi mỗi con người thông qua truyền thông, đều dễ dàng được trao cho cái quyền lực tối thượng là làm tổn thương kẻ khác; kẹt lại tại cái mồ chôn hôn nhân mà người phụ nữ bị tước đi tiếng nói, vĩnh viễn giãy giụa trong vẻ ngời sáng của cuộc sống vợ chồng vàng; kẹt lại tại dinh thự Bạch Cung, một công trình kiến trúc lố bịch của những kẻ trưởng giả ấu trĩ nhưng thích khoe mẽ; kẹt lại tại nước Đức, nơi một cuộc tình đã sống và đã chết, nơi những kẻ không có bến đỗ mãi lưu lạc trong dòng hải lưu ở biển Baltic mà qua hàng năm ròng vẫn không thể dạt vào bờ.
Bạn ơi,
Đừng khóc./