"Vận mệnh của tiền tệ cuối cùng sẽ đại diện cho vận mệnh của quốc gia." - Câu trích ngắn gọn để truyền tải một cách đơn giản và tổng quát nhất nội dung của Chiến Tranh Tiền Tệ.
Bộ sách Chiến Tranh Tiền Tệ là ấn phẩm nói về sự ra đời của tư bản tài chính thế giới, quá trình bành trướng ra toàn cầu, thao túng và ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế khác. Tiền tệ là thước đo sức khỏe nền kinh tế của một quốc gia, nó là công cụ mạnh nhất để điều khiển và kích thích nền kinh tế. Ai thao túng được tiền tệ sẽ tạo ra những lợi nhuận khổng lồ và có được quyền lực tối cao nhất. Hiểu được điều này, giới tư bản vẫn luôn giành giật quyền kiểm soát và phát hành những đồng tiền chủ chốt của nhân loại. Đó cũng là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử cận và hiện đại. Theo chân những phân tích sâu sắc của tác giả, cuốn sách sẽ từng bước khai mở bức tranh về những sự kiện diễn ra trong lịch sử, dưới góc nhìn lấy tiền tệ là trục chính để xoay quanh, tập trung chủ yếu vào Trung Quốc.
Tổng quan
Cựu giáo sư nhân học Mỹ Jack Weatherford từng nói: "Kiểm soát tiền tệ là một cuộc tranh đấu vĩ đại. Kiểm soát việc phát hành và phân phối tiền tệ là kiểm soát tài sản, tài nguyên và toàn nhân loại." Từ Chiến tranh nha phiến cho đến sự sụp đổ của nhà Thanh, từ thành công của cuộc Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản cho đến sự thất bại của Phong trào Dương vụ của Trung Quốc, từ giấc mơ khống chế huyết mạch kinh tế của Tưởng Giới Thạch, cho đến sự ra đời của đồng nhân dân tệ. Nghiên cứu hàng loạt các sự kiện lịch sử khiến tác giả dần dần nhận thức được ảnh hưởng to lớn của quyền phát hành tiền tệ đối với lịch sử Trung Quốc hiện đại. Để cấu thành và thực hiện quyền phát hành tiền tệ, cần phải có cả một bộ cấu trúc hệ thống để hỗ trợ nó. Tác giả gọi hệ thống này là "Biên giới tài chính". Vậy "Biên giới tài chính" là gì và nó có ảnh hưởng như thế nào đến sự hưng thịnh của một quốc gia?
Nội dung thứ nhất: Biên giới tài chính và sự sụp đổ của nhà Thanh.
Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã đưa ra khái niệm "Kiểm soát biển" và tin rằng "kiểm soát đại dương chính là kiểm soát thế giới". Sau đó người Ý lại tiếp tục đưa ra khái niệm "Kiểm soát trên không", cho rằng "nắm được quyền kiểm soát trên không đồng nghĩa với việc giành chiến thắng". Năm 1981, Mỹ lại tiếp tục đề xuất lý thuyết "Biên giới trên cao" để nói về "kiểm soát không gian": "kiểm soát được không gian bên ngoài Trái Đất là có thể thống trị thế giới". Những khái niệm này đều cố xác định phạm vi cần kiểm soát để giành được quyền lực.
Theo Song Hong Bing, biên giới của một quốc gia có chủ quyền không chỉ là không gian vật lý ba chiều bao gồm đất, biển và bầu trời. Khi tài chính đang ngày càng trở thành một chiến trường toàn cầu, khái niệm chủ quyền của một đất nước cần bao gồm thêm một không gian mới: đó là Biên giới tài chính.
Biên giới tài chính có thể được cấu thành từ các yếu tố sau đây: bản vị tiền tệ, ngân hàng trung ương, mạng lưới tài chính, thị trường giao dịch, tổ chức tài chính và trung tâm thanh toán. Những yếu tố này thiết lập thành một hệ thống với mục đích đảm bảo hiệu quả và an toàn của tiền tệ đối với việc huy động nguồn lực, bảo vệ dòng máu tiền tệ vận hành từ trái tim là các ngân hàng trung ương, đến các mạch máu tài chính và tất cả tế bào của toàn nền kinh tế, cuối cùng tuần hoàn trở lại trong hệ lưu thông của các ngân hàng trung ương. Chính vì vậy, biên giới tài chính và việc kiểm soát tiền tệ nắm vai trò rất trọng yếu đối với vận mệnh của một quốc gia.
Theo tác giả, nguyên nhân thật sự dẫn đến sự suy tàn của nhà Thanh là do các lực lượng vốn tài chính phương Tây, cụ thể là các ngân hàng nước ngoài và thế lực đứng sau chúng, đã tiến hành công phá biên giới tài chính của Trung Quốc. Trọng tâm chiến lược lật đổ hệ thống tiền tệ của Trung Quốc là việc buôn bán nha phiến, và Chiến tranh Nha phiến thực chất là cuộc chiến giữa bản vị vàng của Anh và bản vị bạc của Trung Quốc.
Khởi điểm là sự xuống dốc của đế chế tài chính Hồ Tuyết Nham khi ông đối đầu với lợi ích của nhiều chủ ngân hàng quốc tế trong cuộc chiến giành quyền định giá tơ lụa thô.
Phía sau cuộc chiến này thực chất là một cuộc tranh đoạt quyền lực tài chính - điều mà đến tận khi trút hơi thở cuối cùng, Hồ Tuyết Nham vẫn chưa thể hiểu được. Sự thất bại của ông không chỉ do các lực lượng vốn tài chính. nước ngoài, mà còn do lực lượng dương mại bản trong nước - những kẻ sẵn sàng bán rẻ lợi ích chung của cả dân tộc để mưu lợi cho bản thân mình.
Để định nghĩa một cách đơn giản, dương mại bản là cách gọi những thương nhân địa phương đã giúp các công ty nước ngoài mở rộng kinh doanh tại Trung Quốc, có quan hệ đại lý với các hiệu buôn nước ngoài và sẽ được chia lợi nhuận nếu các phi vụ làm ăn diễn ra hiệu quả. Xét trên góc độ thương mại thuần túy, đây chỉ là hành vi thông thường. Tuy nhiên, trong trường hợp của Trung Quốc ở thời điểm đó, các hiệu buôn nước ngoài không đảm bảo công bằng thương mại mà tiến hành theo kiểu chèn ép, nhằm mục đích thao túng thị trường, muốn kiểm soát cung ứng tiền tệ.
Để chấm dứt tình trạng nói trên, Hồ Tuyết Nham đã lên kế hoạch cho một cuộc phản công của lực lượng tài chính bản địa, nhưng lại đáng tiếc thua về mặt chiến lược. Đây là khởi đầu cho sự suy sụp biên giới tài chính của nhà Thanh, mà đáng lẽ có thể không xảy ra nếu không có sự trợ giúp của chính các đồng bào dương mại bản. "Thông qua họ, nguồn vốn từ nước ngoài mới có thể xâm nhập vào các huyết mạch kinh tế của Trung Quốc, hàng hóa nước ngoài đã chảy tới các thành thị của Trung Quốc, tinh thần nước ngoài dần dần lật đổ ý thức của Trung Quốc, và lợi ích nước ngoài đã ràng buộc giới tinh hoa quyền quý của Trung Quốc."
Nếu sự kiện này đã làm lung lay nguồn tiền tệ và đe dọa nền kinh tế của Trung Quốc lúc bấy giờ, Chiến tranh Nha phiền chính là lưỡi dao kết liễu cho biên giới tài chính, trực tiếp dẫn đến sự suy tàn của nhà Thanh.
Với đích nhắm là bản vị tiền tệ của Trung Quốc - đó là bạc, nha phiến được chọn là phương án công kích tối ưu nhất. Nha phiến được bơm vào huyết mạch kinh tế của Trung Quốc qua đường buôn lậu dưới sự phân phối của công ty Đông Á - một đế chế tài chính được thành lập bởi các chủ ngân hàng tại London và Hoàng gia Anh. Mạng lưới buôn bán nha phiến ở nước này mở rộng nhanh chóng thông qua các trung gian giáo hội. Chính quyền và nhiều quan chức Trung Quốc cũng bị người Anh mua chuộc. "Nạn hối lộ và làn khói nha phiến đã cùng lúc xâm nhập vào lá phổi của các quan lại 'thiên triều', phá hủy trụ cột của chế độ tông pháp." Như một hệ quả tất yếu, Trung Quốc nhanh chóng lâm vào tình trạng "chảy máu" dòng bạc quy mô lớn, dẫn đến cuộc khủng hoảng tiền tệ "bạc đắt tiền rẻ" nghiêm trọng. Bằng cách đó, nha phiến đã thành công phá hủy bản vị tiền tệ bạc - nền móng biên giới tài chính của Đại Thanh, khiến thương mại bị thâm hụt lớn, thu nhập giảm, cuộc sống người dân khốn khổ, phân hóa giàu nghèo và xung đột trong xã hội ngày càng trở nên gay gắt.
Để phân tích rõ hơn về tầm quan trọng của biên giới tài chính với sự an nguy của một quốc gia, tác giả đưa ra dẫn chứng về Nhật Bản và phong trào Duy Tân Meiji của họ. Với nguồn khoáng sản nghèo nàn và nhiều điều kiện ban đầu vốn không mấy khác biệt gì với Trung Quốc, nhưng Nhật Bản đã thành công triển khai phong trào Phục hưng Meiji, còn Trung Quốc lại thua cuộc trong cuộc Chiến tranh Nha phiễn và thất bại thảm hại với phong trào Dương vụ, phải cắt đất bồi thường cho Anh - Pháp. Chứng kiến xu thế thực dân hóa hết sức nguy hiểm mà Trung Quốc và nhiều nước khác đang phải đối mặt vì áp lực nợ nước ngoài, Nhật Bản đưa ra quyết định không tiến hành vay nợ, không thực hiện chính sách "chiêu thương tư dẫn" mà chỉ cần công nghệ, máy móc, thiết bị và nguyên liệu nước ngoài. Phong trào Meiji của Nhật cuối cùng đã hình thành nên hình thái chuyên chính giai cấp tư sản tài phiệt quan liêu, khóa chặt lợi ích của các nhà tài phiệt chủ chốt vào nhau, khóa chặt lợi ích của họ và lợi ích quốc gia vào cùng một chỗ. Vì lẽ đó, bảo vệ lợi ích quốc gia cũng chính là bảo vệ lợi ích của chính họ.
Ngược lại, phong trào Dương Vụ được thực hiện bởi đế chế Đại Thanh - một giai cấp mại bản - quan liêu được hình thành bởi các quan chức và lực lượng mại bản. Dương mại bản xem lợi ích của bản thân là trên hết, sẵn sàng hi sinh lợi ích quốc gia cho các thế lực nước ngoài để tranh đoạt lợi ích cá nhân. Kết quả, Nhật Bản kiểm soát được biên giới tài chính, còn Trung Quốc lúc bấy giờ đã đánh mất triệt để biên giới tài chính, dẫn đến đánh mất vị thế độc lập chính trị; thiếu hụt nguồn vốn phát triển kinh tế, quân sự, quốc phòng; công nghệ và giáo dục cũng dần xuống cấp. Trung Quốc trở thành nước bán thuộc địa bị các cường quốc mặc sức xâu xé và vơ vét.
Nội dung thứ 2: Tưởng Giới Thạch và cuộc chiến cải cách tiền tệ của TRung Quốc.
Khi đứng trên góc nhìn với cốt lõi là ý chí của tiền, dòng tiền và những tác động của tiền để quan sát hàng loạt các sự kiện biến động lớn nhỏ trong lịch sử Trung Quốc, từ cuộc chiến tranh Bắc phạt rung trời chuyển đất, những diễn biến nội chiến phức tạp giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, cho đến dã tâm chiếm đoạt và sự tranh chấp quyền kiểm soát của các cường quốc bên ngoài đối với Trung Quốc, khắp nơi đều thấp thoáng hình bóng của mạng lưới tiền bạc.
Tưởng Giới Thạch là một người với tình yêu dân tộc mãnh liệt. Trong quá khứ, đây là người đàn ông từng đến thăm Liên Xô và được truyền cảm hứng bởi hệ thống tín ngưỡng, học thuyết chuyên chính giai cấp vô sản và quân đội của họ. Ông trở về Trung Quốc với lý tưởng thống nhất đất nước thông qua cuộc Bắc phạt, cấp thiết thúc đẩy tư tưởng "một chủ nghĩa, một chính đảng". Ông cũng từng có thái độ, quan điểm bài xích nặng nề đối với các cường quốc như Anh, Mỹ, Pháp và các nước khác, không ít lần chỉ trích chính sách đối ngoại của Mỹ. Trớ trêu thay, Tưởng Giới Thạch cuối cùng lại ngã vào vòng tay của những cường quốc mà ông từng căm thù tột độ, dưới sự dụ hoặc của đồng tiền và quyền lực.
Cuộc Bắc phạt bắt đầu từ 30 triệu rúp viện trợ của Liên Xô. Đất nước Nga đang dần phục hồi kinh tế sau chiến tranh nhanh chóng xác định Trung Quốc là đồng minh cần có để ngăn chặn các nước đế quốc "thừa nước đục thả câu". Tính từ năm 1923 cho đến năm 1926, thực tế số lượng vũ khí và tài chính mà Liên Xô đã cung cấp cho Quốc dân Đảng đã vượt quá con số 30 triệu rúp. Nhờ "nguồn máu" mạnh mẽ này, quân Bắc phạt của Quốc dân Đảng đã nhanh chóng phát triển thành lực lượng nòng cốt, mang tính quyết định trên bản đồ chính trị Trung Quốc. Tuy nhiên, khi đứng giữa hai lựa chọn: tiền bạc và nguyên tắc, lý tưởng sống của bản thân, Tưởng Giới Thạch đã không chút do dự chọn 60 triệu đồng bạc được cho vay với điều kiện: phản bội Liên Xô, động binh chống lại cộng sản. Bởi lẽ, ông biết rằng, thế lực phía sau người đang đưa ra đề nghị là một thế lực sừng sộ mà ông có thể lợi dụng để thực hiện dã tâm của mình. Thế lực này không ai khác chính là giới tài phiệt Giang-Chiết và chủ ngân hàng Hà Lan -. Rothschild.
Ngày 12 tháng 4, Tưởng Giới Thạch tiến hành cuộc đảo chính, thảm sát các thành viên cộng sản, công nhân, nông dân và nhân sĩ cánh tả.
Với khẩu hiệu "Thà giết nhầm ba ngàn người chứ không được để lọt môt người", ông dâng sinh mạng hàng ngàn người cho các tập đoàn thế lực đứng đầu ngân hàng quốc tế. Từ đây, Tưởng Giới Thạch đã chính thức trở thành kẻ phản bội bị Quốc dân Đảng bãi nhiệm tất cả các vị trí và trục xuất. Kết thúc sự kiện hợp nhất Ninh - Hán, Tưởng Giới Thạch trở thành lãnh đạo của chính phủ mới. Thế nhưng ông lại không thể ngồi vững vị trí này quá một tháng. Với dã tâm và lòng tham không đáy, ông nhanh chóng trở thành một nhà lãnh đạo độc tài với ách thống trị khủng bố. Thủ đoạn đe dọa, trừ khử và tống tiền của ông gần như giống hệt với thủ đoạn của Hitler sau này. Những hành vi này đã chọc giận các ông trùm tài chính ở Bến Thượng Hải, việc ông bị hạ bệ chỉ là chuyện sớm muộn.
Hiểu rõ được tình cảnh của mình, Tưởng Giới Thạch đã đệ đơn từ chức và tuyên bố rút lui. Dĩ nhiên, đây chỉ là mưu kế đối phó để rồi về sau, ông quay lại cuộc chiến này bằng cách liên hôn với con gái nhà tài phiệt họ Tống, tự trói mình vào mối quan hệ nhân - thân với giới tài phiệt Giang - Chiết.
Trong khi Tưởng Giới Thạch còn đang bận rộn xây dựng tài sản, những người cộng sản từng bị ông đàn áp bắt đầu cầm vũ khí nổi dậy. Bị Quốc dân Đảng thực hiện chiến lược phong tỏa kinh tế nghiêm ngặt, ở khu vực nhà nước Xô Viết Giang Tây - Phúc Kiến, nguyên vật liệu hết sức thiếu thốn, vật giá lạm phát và tiền tệ mất giá. Bên cạnh đó, tiền giả và những tin đồn thất thiệt bị kẻ thù truyền vào để làm lung lay lòng tin của dân chúng cũng là một vấn nạn cần được giải quyết. Nhận ra tầm quan trọng của tiền tệ và ngân hàng, họ đã tạo ra ngân hàng trung ương nhỏ nhất thế giới, với chỉ năm nhân viên lúc ban đầu. Những người này đều không có học vấn cao hay kinh nghiệm chuyên môn với lĩnh vực tài chính, kinh tế. Hơn nữa họ cũng thiếu hụt vốn, không có giấy chuyên dụng, không có bản vẽ thiết kế hay mực in, cũng chẳng có biện pháp chống tiền giả. Họ thật sự đã phải bắt đầu mọi thứ từ số 0 và trưởng thành trong thực tiễn. Ngân hàng Quốc gia Cộng hòa Xô Viết Trung Quốc ra đời, tạo ra nguồn tiền tệ cho dân, vì dân, nỗ lực giải quyết vấn đề xoay quanh nhu cầu cuộc sống người dân.
Chính vì giành được lòng tin của dân chúng, lực lượng cộng sản bắt đầu mọc lên và bành trướng hết sức rộng rãi, đến mức khiến Tưởng Giới Thạch e ngại hơn cả lực lượng quân xâm lược Nhật Bản. Lúc này ông nhận ra điều cần làm là tập trung quyền lực về tài chính và bắt đầu tiến hành cuộc cải cách tiền tệ, từng bước kiểm soát hệ thống tài chính và huyết mạch kinh tế quốc gia. Khi ông thành công thiết lập lại hệ thống bản vị tiền tệ bạc, Trung Quốc lại một lần nữa trở thành miếng mồi ngon để các cường quốc nhăm nhe. Một lần nữa, lịch sử lặp lại, lần này kẻ thù trực tiếp là Mỹ. Dựa theo thủ đoạn cũ trong quá khứ, Mỹ lặng lẽ tăng giá bạc, khiến Trung Quốc lần nữa lâm vào tình trạng "chảy máu" dòng bạc.
Sau cùng, Trung Quốc lại đánh mất quyền biên giới tài chính trong sự xâu xé của Anh, Pháp và Mỹ. Tưởng Giới Thạch và giấc mơ bá chủ tài chính quốc gia của ông "sớm nở chóng tàn", dần dần sụp đổ.
Nội dung thứ 3: Sự ra đời của đồng nhân dân tệ.
Sau "Sự biến Tân tứ quân" năm 1941, Chính phủ Tưởng Giới Thạch cắt tất cả các khoản hỗ trợ và viện trợ tài chính cho khu vực Thiểm-Cam- Ninh. Các chính sách cấm xuất nhập khẩu hàng hóa được tiến hành, khiến cho nền kinh tế ở khu vực này rơi vào khốn đốn, đói nghèo đến mức cùng cực. Thời điểm này, Thiểm- Cam-Ninh vẫn đang sử dụng đồng tiền pháp định do Chính phủ Quốc dân phát hành. Tuy chính quyền khu vực có tín dụng tiền pháp định rất cao, việc lưu hành diễn ra khá suôn sẻ, nhưng tiền lẻ bổ trợ lại hết sức thiếu thốn, khiến vật giá tăng cao và ảnh hưởng đến cuộc sống người dân. Vấn đề nằm ở chỗ, theo ký kết giữa Quốc dân Đảng và Đảng cộng sản, Thiểm-Cam-Ninh không có quyền phát hành tiền tệ, điều này đồng nghĩa với việc đặt vận mệnh của khu vực vào tình thế bị động, bất cứ lúc nào cũng có thể rơi vào khủng hoảng kinh tế nếu Quốc dân Đảng quyết định cắt nguồn cung tiền. Chính vì vậy, chính quyền khu vực đang âm thầm phát hành tiền tệ của riêng mình, cố gắng khôi phục chức năng "tạo máu" cho nền kinh tế địa phương và hình thành một hệ thống hoàn toàn độc lập khỏi tiền pháp định của Quốc dân Đảng.
Đầu tiên, biện pháp của Nam Hán Thần là cho phát hành biên tệ trong khu vực, thu hồi tiền pháp định. "Việc phát hành biên tệ và xóa sổ tiền pháp định là hai mặt của một đồng xu." Tiền pháp định bị thu hồi có thể dùng để thu mua nguyên liệu của Quốc dân Đảng. Cách này vừa có thể làm giảm nhẹ lạm phát, vừa có thể thu mua và tích trữ vật tư từ bên ngoài khu vực. Bàn luận về các phương hướng để giải quyết vấn đề lạm phát, họ nhận ra lượng lưu thông hàng hóa và tiền tệ trên thị trường cần tỉ lệ thuận với nhau, một khi xuất hiện sự chênh lệch sẽ xảy ra lạm phát hoặc giảm phát. Bên cạnh đó, việc cung cấp các khoản vay cho ngành công, nông và giao thông vận tải, song song với việc phát triển tín dụng, giảm thiểu phát hành tiền tệ cũng là những biện pháp được đề xuất để hạn chế tình trạng lạm phát.
Mặt khác, ở khu vực căn cứ địa Sơn Đông bắt đầu phát hành "Bắc hải tệ" như một loại tiền bổ trợ cho tiền pháp định từ năm 1938. Sau một thời gian nghiên cứu và điều tra, Tiết Mộ Kiều đã ngộ ra một phương pháp tương tự như trường hợp ở Thiểm-Cam-Ninh, đó là nếu muốn tăng giá trị Bắc hải tệ, cần thu hồi và xóa bỏ tiền pháp định, tiền pháp định thu hồi được sử dụng để mua thêm vật tư ở khu vực kẻ thù chiếm đóng, dùng số vật tư này để bổ trợ cho Bắc hải tệ. Khi vật giá tăng cao thì bán vật tư để giảm giá trị tiền tệ, rồi giá vật tư cũng sẽ giảm theo.
Từ đây, họ nhận ra rằng vật giá ổn định chính là điều kiện tiên quyết để làm nên tín dụng tiền tệ, là thước đo cho sự thành công của hệ thống tiền tệ. Tiền tệ liên kết với vật giá, coi chỉ số vật giá làm tiêu chuẩn xác định giá trị cao thấp của tiền tệ. Quy tắc này đã trở thành nền tảng cho sự ra đời của nhân dân tệ.
Trên thực tế, kinh tế ở các khu vực đã chứng minh rằng giá trị tiền tệ hoàn toàn có thể thoát ly khỏi mối quan hệ với vàng, bạc và ngoại hối - những mối liên kết khiến nền kinh tế của họ dễ dàng bị kẻ thù ảnh hưởng.
Cuối năm 1948, Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức phát hành một loại tiền tệ thống nhất - nhân dân tệ - dựa trên cơ sở đấu tranh tiền tệ ở các khu vực căn cứ địa. Tiếp nối cho sự kiện này là một quá trình dài và đầy gian nan trong việc đơn giản hóa và thống nhất các loại tiền tệ trên khắp đất nước Trung Hoa, cũng như thiết lập uy tín của loại tiền tệ mới trong quần chúng. Tuy nhiên sự ra đời của nhân dân tệ đã đặt nền móng đầu tiên cho việc lấy lại quyền kiểm soát biên giới tài chính của Trung Quốc. Sau khi nhân dân tệ được phát hành, có không ít thế lực đầu cơ có ý đồ lũng đoạn nền kinh tế quốc dân còn đang ở giai đoạn dần khôi phục. Từ cuộc chiến bạc cho đến cuộc chiến vật tư, lương thực, chúng muốn làm đồng nhân dân tệ bị mất giá trị và gây lạm phát để trục lợi cá nhân. Tuy nhiên, chính phủ đã lần lượt giải quyết từng vấn đề một, đảm bảo giá trị của đồng nhân dân tệ được giữ vững. Đồng nhân dân tệ không quy định hàm lượng vàng, tuyên bố sẽ thoát ly khỏi vàng và bạc, tỷ giá hối đoái chủ yếu dựa trên sức mua của tiền tệ. Đồng nhân dân tệ cũng từ chối liên kết với bất cứ ngoại tệ nào để cắt đứt ngay từ gốc rễ sự xâm nhập và kiểm soát của các vốn đầu tư nước ngoài đối với Trung Quốc. Đồng nhân dân tệ là tiền tệ để phục vụ cho người dân Trung Quốc, phát triển kinh tế độc lập.
Cuốn sách mang đến một cái nhìn toàn cảnh về những biến động trong lĩnh vực tài chính tại Trung Quốc từ thời nhà Thanh, cùng tác động của nó lên mọi mặt chính trị, xã hội của người dân nước này và trên thế giới. Từ cuộc Chiến tranh Nha phiến đến cuộc chiến bãi bỏ bản vị bạc TQ của các nước phương Tây. Từ cuộc Duy tân Meiji đến cuộc xâm lược TQ của NB. Từ cuộc Bắc phạt của Tưởng Giới Thạch đến sự ra đời của nước CHDCND Trung Hoa. Các sự kiện lịch sử lần lượt được giải đáp dựa trên 1 trụ thống thất là trục tài chính. Những lí giải này một lần nưã khẳng định tầm quan trọng của một loại biên giới mới – biên giới tài chính.
Một cuốn sách hay về tiền tệ. Nhưng có những chỗ do thành kiến của mình với đảng cộng sản nên mình không cảm thấy như nó đang tôn vinh hơi quá đà đảng cộng sản trung quốc mà không nói đến thời kỳ bế quan tỏa cản mà chế độ này gây ra.
Cuốn này tập trung nói về tiền tệ TQ từ thời nhà Thanh đến đảng cs TQ thống nhất đất nước. Vẫn như 2 cuốn trước full thuyết âm mưu. Đọc để tìm hiểu lịch sử thì rất ok.