NỬA CHỪNG XUÂN - Giấc mộng tình yêu hão huyền giữa cơn trở dạ giằng xé của thời thế
BÀI DÀI! (còn tiếp ở phần Comment)
SPOIL WARNING!
1.Khái Hưng và nguồn nguồn cảm hứng từ những chuyện tình sầu
Tôi biết đến Khái Hưng qua những trang sách cổ từ thời Pháp thuộc mà ông nội sưu tầm. Với tôi, Khái Hưng là người dẫn dắt vào những bài học tiếng việt việt đầu tiên và cũng là những kí ức ấn tượng đầu tiên của tôi đối với văn chương Việt Nam. Khái Hưng viết dễ hiểu, gần gũi, ông thích dùng những từ ngữ bay bổng trữ tình, đặc biệt là những từ rất xưa, rất cũ của các bậc tiền bối. Lần nào đọc văn của Khái Hưng cũng đượm một cảm giác man mác buồn, dịu nhẹ mà sâu lắng, khiến người ta muốn chạy trốn vào thế giới văn chương mộng mị không muốn tỉnh cơn mê nữa. những trang truyện võ hiệp bi tráng đong đầy nỗi cảm hoài trong Tiêu Sơn Tráng Sĩ, qua cái tình e ấp mờ ảo dưới bóng chiều tà nơi cửa Phật (Hồn bướm mơ tiên), qua mối duyên tình kết thúc nửa chừng hòa tan trong cảnh thiên nhiên u sầu trữ tình của “Trống Mái”...
Hồi học cấp 3, tôi và đám bạn mê văn chương hay gọi ví von Khái Hưng là “Ông hoàng của những mối lụy tình” hay “Kẻ từ chối chối ái tình” vì trong những truyện của ông thường kết thúc bằng 3 từ: tình sầu, tình khổ, tình đau. Đối lập với Nhất Linh, người bạn chí cốt thường viết về những mối duyên tình đẹp đẽ, lãng mạn bay bổng trong “Nắng thu”, “Lạnh lùng”, … Khái Hưng lại bày tỏ nỗi ác cảm và thù ghét đối với ái tình lãng mạn. Thế giới quan của ông coi thứ tình cảm nam nữ đơn thuần như một liều thuốc phiện, đã đắm vào cơn phê pha là cả sẽ bị vĩnh viễn giam trong cái lồng ảo mộng, chỉ cần bỏ 1 ngày thôi là đã vô cùng khổ sở, ngứa ngáy. Với thuốc thì đó là cơn thèm nghiện, còn với tình trường đó là sự lệ thuộc, là sự ủy mị yếu đuối không đáng, vì thuốc người ta có thể làm mọi thứ để được hít được phê pha bất chấp đạo đức và trong ái tình cũng có lắm kẻ không suy nghĩ cứ đâm đầu vào mà làm chuyện ngu ngốc.
Nói chung, ái tình chính là căn bệnh gây khổ đau của mọi kiếp. Nhưng, có lẽ xuất phát từ tuổi ấu thơ không mấy hạnh phúc với phận là con dì ghẻ và cả một đời gian truân bươn chải nhiều nghề trước khi thành văn sỹ, vậy nên tuy rằng đọc Khái Hưng rất sầu não nhưng bù lại chất văn ông đời hơn, trần trụi hơn, đến nỗi người đọc cũng tỏ ý đồng tình với sự chia cắt tình cảm đó. Người ta nhìn thấy ở “Trống Mái” là một chàng Vọi không đủ bản lĩnh, không đủ chí khí để cất lời yêu để rồi mãi mãi lìa xa tình đầu, hay Lan trong “Hồn bướm mơ tiên” đã từ bỏ sự cuộc tình được sắp đặt để đến với cõi Phật, để thoát khỏi bụi đời trần tục, và “Nửa chừng Xuân” cũng có đôi bạn trẻ dám yêu nhưng chưa thiếu đầu óc, thiếu cả chí khí để đối kháng với định kiến xã hội để rồi mỗi người phải sống 1 đời dằn vặt lầm lỡ. Còn “Tiêu Sơn tráng sỹ”, đỉnh cao của sự lụy tình, kể chuyện một đấng nam nhi lại từ chuyện thiên hạ chỉ để thỏa mình trong cơn lạc thú tình ái, bỏ quên đại nghiệp, bỏ quên đồng bạn chí cốt của đời mình. Mỗi câu chuyện tình của Khái Hưng đều lý giải sâu sắc về những mối tình lỡ dở, đó là những sai lầm, những ý định dang dở chần chừ, những hành động thiếu suy nghĩ thời trẻ khiến chính họ và người trong cuộc phải chịu những nỗi đau về sau.
Tuy Khái Hưng tỏ rõ là một người phản đối chuyện ái tình lãng mạn và ở phía ngược lại, ông ủng hộ những tình cảm của người trưởng thành, biết suy nghĩ hơn, biết chia sẻ những suy nghĩ chung lớn lao cho tương lai, thời cuộc đất nước (thể hiện qua “Gia đình”,...). Thứ tình cảm nam nữ lý tưởng của Khái Hưng chính là tình yêu mà 2 bên cùng chung chí hướng, chung 1 mục đích cao cả và hướng thiện cho xã hội, cho con người Việt Nam. Đó là tinh thần cách mạng tân thời, sự hòa hợp thế hệ, chống lễ giáo phong kiến cổ hủ, hay tình yêu tự do lành mạnh.
2. Một mối tình còn bỏ ngỏ giữa tuổi xuân phơi phới
“Nửa chừng xuân” là một tiểu thuyết tiêu biểu cho cái tinh thần văn chương trữ tình buồn và nặng niềm đau như vậy. Câu chuyện của nó chỉ đơn giản xoay quanh một cuộc tình dở dang, nhưng bao trọn trong đó là cả một bầu trời hoài niệm về thời thanh xuân với những những dự định còn vương vấn, những lý tưởng nửa vời được thực hiện bởi những con người ngây thơ, thiếu chín chắn trước tình yêu và lý tưởng của đời mình, để rồi phải chia ly nhau mãi mãi.
Tiểu thuyết mở đầu bằng cảnh chiều thu lá bay với nắng chiếu vàng ươm những cánh đồng của 1 làng ngoại ô Hà Nội dân dã mộc mạc những thập niên đầu của thế kỉ trước. Khung cảnh thôn quê Bắc Bộ yên bình giản dị đó là tiền đề cho mối tình đẹp đẽ giữa Mai và Lộc, 2 con người với 2 cái tên ấm áp sắc xuân, tràn đầy nhựa sống. Chàng là trí thức chốn thành thị văn minh, nàng là thôn nữ dân quê truyền thống nho nhã, 2 con người tưởng chừng trái ngược và cách biệt đó đã đến với nhau bằng c��i duyên nợ có trả của một đời, và qua những giao cảm dung dị đời thường của những cuộc chạm mặt lần đầu còn bỡ ngỡ:
“- Thế nào, tôi hỏi cô đã có chồng chưa, sao cô lại không đáp?
- Thưa ông, em nghèo thế thì ai lấy.
- Thế sao tôi không nghèo mà cũng chưa ai thèm lấy tôi?”
“Hai bên đường, lá ngô trước gió rung động lao xao. Cô cũng thấy người cô rung động. Cái rung động, cái cảm giác của sự sung sướng hồn nhiên, của tuổi thanh niên chứa chan hy vọng như cái khí lực bồng bột chứa trong cây, phát ra các búp non trên cành tơ mơn mởn.”
Nhưng mơ và thực là 2 thứ rất xa vời, mối tình thanh xuân đó quả thực rất đẹp, rất lý tưởng, nhưng tuổi trẻ nào đâu đủ chín chắn trong tình yêu, đủ bản lĩnh để phá bỏ bức rào bủa vây của định kiến và lễ giáo lạc hậu đương thời để tiến tới hạnh phúc trọn kiếp? Một đám cưới giả, một phút hoan lạc xác thịt thoáng chốc theo lời thì thầm mật ngọt của ái tình, đã đẩy đôi bạn trẻ rơi vào chuỗi sai lầm và khó khăn trắc trở của một xã hội đầy định kiến, dẫn đến một cuộc ly biệt đầy day dứt. Vậy là, mối tình lý tưởng đó sớm rơi vào bi kịch chia ly, từ yêu hóa bi, để lại một nỗi day dứt dằn vặt mãi mãi tựa ngàn mũi kim thấu tim.
Vậy nên Xuân Diệu đã nói về tuổi trẻ “Xuân còn xanh là xuân chưa chín” quả không sai, cả câu chuyện là những mảnh đời dang dở, là những lý tưởng, những quyết định ngây thơ chưa dứt khoát, chưa trưởng thành của tuổi trẻ, của một thế hệ xã hội mới. Đó là một Lộc nửa mùa trong tư tưởng, nửa mùa trong tình yêu, một người luôn mạnh miệng chống phong kiến cổ hủ nhưng bên trong chỉ là kẻ nhu nhược, thiếu chính kiến, bị chính bức rào ngăn đó đè nặng đến ngạt thở. Đó là một Mai nhẹ dạ, thiếu chín chắn, luôn mộng tưởng về một mối tình cổ tích lý tưởng mà sẵn sàng vượt rào, bỏ qua hậu họa để rồi đánh mất danh dự và cả cuộc đời phía sau. Nửa chừng xuân… Đó là nửa chừng hạnh phúc, nửa chừng đời người…. Và ở đó cả những dự định nửa vời, những quyết định thiếu sáng suốt khiến đôi ta phải bỏ ngỏ cả một đời dài đằng đẵng
3. Hình ảnh về một cuộc cách mạng tư tưởng mới nhú, một thế hệ tân thời non trẻ thiếu chín chắn trước cuộc đời
Chen giữa cuộc tình bỏ đi đó là bà Án, mẹ của Lộc, đại diện của chế độ phong kiến lạc hậu, cũng chính là bức rào tư tưởng đã cản bước, đã đầu độc tâm hồn đứa con trai yêu quý và gián tiếp vùi dập một kiếp người khác bằng những thủ đoạn tàn nhẫn khắc nghiệt của chế độ giáo lý đạo Khổng. Mà nguyên do cũng chỉ vì sự nghèo, vì những định kiến giàu nghèo khắc nghiệt của chế độ cũ. Nhưng thực ra, chính hành động đi quá giới hạn của đôi bạn trẻ chính là giọt nước tràn ly khắc sâu định kiến giai cấp trong bà, buộc bà phải thực hiện những giải pháp tàn nhẫn để cứu vãn danh dự gia đình, danh dự cho chính bà và và con trai của mình.
“À, mày giở văn minh ra với tao à? Tự do kết hôn à? Mày không bằng lòng nhưng tao bằng lòng. Mày phải biết lấy vợ gả chồng phải tìm chỗ môn đăng hộ đối, chớ mày định bắt tao thông gia với bọn nhà quê à? Với bọn cùng đinh à! Mày làm mất thể diện tao, mất danh giá tổ tiên, mày là một thằng con bất hiếu. Nghe chưa?”
Tại sao bà lại quyết định như vậy? Điều đó xuất phát từ ác cảm của thế hệ cũ đối với những tác hại của tư tưởng tự do tân thời. Cũng giống nhiều bậc tiền bối khác, bà ý thức được những làn sóng tư tưởng tiến bộ của cuộc u Hóa đang ào ào ập đến như vũ bão, thế nhưng đó vẫn chỉ là những gợn sóng nhỏ, yếu ớt, chưa vững vàng, chỉ mới chớm nở giữa vòng vây của ý thức hệ lỗi thời. Nó chưa đủ chín và chưa đủ mạnh để trở thành lý tưởng cách mạng xã hội toàn diện. Thế nhưng thanh niên ở thời đại nào cũng vậy cả, đâu đâu cũng có lắm kẻ hùa theo, thích học đòi cái mới lạ, cái kích thích mới mẻ. Chúng nghĩ rằng chỉ đơn giản bập bẹ vài từ tiếng Tây, sắm lên người 1 bộ u phục lịch lãm hay công khai tình yêu đôi lứa trước mặt đấng sinh thành "cổ hủ lạc hậu" là đã đủ để khoe với thiên hạ rằng ta đây đã trở thành người đóng góp chung cho "cuộc cách mạng văn minh tiến bộ ở xứ An Nam". Mà chính bởi vì niềm tin “thượng đẳng” đấy, chúng coi cha mẹ, ông bà, tiền bối của chúng là “bọn hủ Nho”, “tàn dư phong kiến”, sinh ra thích đối đầu cha mẹ chúng, sinh ra thói thích "sống thử", thích "làm thử" mà chả thèm mảy may suy nghĩ thấu đáo hậu họa ra sao. Hỡi ôi, một cuộc cách mạng tinh thần xã hội lớn lao như vậy bỗng dưng lại bị "tiểu thuyết hóa", bị "lãng mạn hóa" bởi bọn thanh niên học đòi đương thời, vậy nên mới nói cái chuyện cải cách xã hội của chúng chỉ giống câu chuyện “Văn cộng minh thành VĂN MINH” của tay nhà báo họ Vũ mà thôi.
Và hành động "vượt rào" khi chỉ mới gặp gỡ thoáng chốc vài bận của hai cô cậu đây chính là minh chứng. Không thể ngây thơ nghĩ rằng một mối tình vượt khoảng cách giai cấp có thể thành hiện thực nếu chưa trải qua sóng gió, cũng như không thể tin rằng tình tình yêu 1 đời lại được được xây dựng chỉ bằng mấy lời mật ngọt thoáng chốc. Với bà Án, người hiểu rõ nhân tình thế thái thấu đáo, cũng phải thở dài ngán ngẩm cho hành động đôi bạn trẻ quý hóa này. Ôi chao, tuổi trẻ biết làm nhưng không biết nghĩ, tuổi trẻ ngây thơ và ngu ngốc quá chừng, chúng chỉ biết sướng cái đê mê ái tình, sướng cái ảo tưởng xa vời mà thôi, còn lại danh dự bản thân, gia đình, rồi khó khăn trước mắt, hậu quả chúng quăng sạch, vứt hết. Cuối cùng hậu họa bao nhiêu thì người chịu nhiều nhất vẫn là gia đình, là mặt mũi cái gia tộc này. Những câu chuyện tình thiếu chín chắn như vậy chẳng khác lắm so với những chuyện của giới trẻ thời nay là bao.
“- Quái, anh ạ, sao chúng ta không mấy khi nghĩ đến ý nghĩa vợ chồng nhỉ, chúng ta chỉ biết chúng ta yêu nhau.”
Nhưng bà Án là một người sõi đời và vô cùng sắc sảo vô cùng, bà hiểu rõ chúng như lòng bàn tay, hiểu rõ sự mong manh dễ vỡ của chúng. Hãy xem cái cách mà bà đạp đổ ảo mộng của đứa con trai đang chìm đắm trong ái tình, luôn miệng đả đảo phong kiến cổ hủ như thế nào: chỉ cần vài lời nói khiêu khích cùng cái quyền uy của một bà chủ gia tộc là đủ để thằng con phải im thin thít, phải ngậm cứng họng không dám chống lại mẹ nó. Vả lại rắc thêm vào đó chút xảo kế tinh vi để dễ dàng khơi dậy sự ghen tuông mù quáng của 1 thằng đàn ông thiếu chính kiến được nuôi dạy dưới chế độ gia trưởng, khiến nó quay lưng với mối tình lý tưởng chỉ trong nháy mắt.
Và ở thế ngược lại Lộc và Mai đối diện như thế nào với bà Án, với tình yêu của mình? Đầu tiên là Lộc, anh ta luôn miệng nói về tình yêu đôi lứa tự do, về văn minh buổi tân thời, nhưng sâu trong anh lại là tên thỏ đế răm rắp nghe theo lời dạy của bà mẹ cổ hủ. Anh dám đứng lên tổ chức 1 đám cưới cùng người mình yêu dù biết đó chỉ là một hôn sự giả, một sự lừa dối trắng trợn, . Anh dám sống và làm những chuyện tình cảm vợ chồng nhưng lại sợ hãi "kết quả của ái tình", sợ rằng mọi sự bại lộ rằng anh ta chỉ muốn chơi đùa ở 2 chữ "ái tình" thôi chứ không hề nghiêm túc nghĩ đến một hôn sự hạnh phúc trọn đời bao giờ. Và nực cười thay, Khái Hưng đã miêu tả dáng vẻ của một người đàn ông tai to mặt lớn bàn chuyện hôn sự, khẳng định quyết định trăm năm với tình yêu đích thực trước mặt mẹ mình bằng cái giọng điệu và những từ ngữ rất ư là nửa vời, yếu đuối theo quy trình tăng tiến, bắt đầu từ "hai má đỏ bừng, cặp mắt sáng quắc” đến “cất giọng run run” và cuối cùng là “cúi đầu ngẫm nghĩ, lo sợ vẩn vơ”. Tồi tệ hơn nữa, khi đứng trước những cạm bẫy thử thách lòng đa nghi của mình, anh lại chọn cách ngoảnh mặt đi và chẳng thèm mảy may suy nghĩ phân tích kín kẽ, anh đã để cái tôi cực lớn lấp đầy trí óc minh mẫn! Và còn Mai thì sao? Từ ban đầu, cô đã biết được sự lừa dối của anh, biết rằng đám cưới đó chỉ là giả, là ảo tưởng, thế nhưng cô vẫn vờ như không biết, vẫn đâm đầu vào, vì chỉ muốn hưởng chút mật ngọt ảo giác của 2 tiếng “vợ chồng”, vì muốn thỏa mãn niềm say đắm nhất thời với ái tình. Có lẽ, cô cũng không hiểu mấy từ “vợ chồng”, “hôn nhân” là gì, mà chỉ coi đó là 1 trò chơi của ái tình. Ôi một cái hôn sự dối trá, lừa đảo, một cái ảo mộng nguy hiểm của tuổi trẻ. Một tình yêu được vun đắp bởi những sự lừa lọc sao có thể vững bền?
"Anh xin thú thực: Khi bắt đầu yêu em, thì anh cứ tưởng tới hạnh phúc của ái tình. Chứ không bao giờ anh nghĩ về gia đình và con cái. Anh thực là một thằng ích kỷ như trăm nghìn người khác. Anh chỉ muốn ái tình đối với anh mãi mãi và hoàn toàn là ái tình, là ái tình không san sẻ. Anh có ngờ đâu đến kết quả của ái tình."
Giải pháp của bà Án rất ác nghiệt, nhưng âu đó cũng chỉ là việc buộc phải làm, là cách cuối cùng để cứu vãn danh dự gia đình, để đưa đứa con trai thoát khỏi ảo tưởng tai họa do một phút bốc đồng của tuổi trẻ mang lại. Thực vậy, chính những định kiến xã hội cổ hủ là nhân tố chính chia cắt cuộc tình này, nhưng không phải sự hồ đồ của đôi bạn trẻ cũng góp phần đẩy nó đến bi kịch trước và sau hay sao? Hơn thế nữa, hành động đó cũng chính một phép thử cho tình yêu giữa hai con người. Nhưng nghiệt ngã thay, "phép thử" đó đã cho ra 1 phản ứng đau lòng, nó đã chứng minh một sự thật rằng không phải bất cứ chuyện tình yêu vượt ranh giới nào cũng sẽ lý tưởng giống Romeo & Juliet, và rằng một cuộc cách mạng tinh thần cho cả một giống nòi không thể được lãnh đạo bởi những khối óc nửa vời ba phải, mà phải bằng những người có cái đầu lạnh cùng trái tim nóng.