Việc cầm bút/phím viết tiếng Pháp là chuyện rất bthg nhưng đã có thời tiếng Pháp ko có chữ viết vì nó chỉ là ngôn ngữ nói, ko dùng trong văn bản viết. Tại sao ngta lại viết tiếng Pháp? Bằng cách nào? Tại sao chính tả tiếng Pháp lại kỳ lạ như vậy? Gabriella Parussa- chuyên gia lịch sử chính tả và ngôn ngữ Pháp - trả lời những câu hỏi đó và đi xa hơn nữa trong quyển sách này
Ngoài cung cấp kiến thức về lịch sử chữ viết tiếng Pháp, quyển sách này hữu ích cho độc giả ko chuyên theo ít nhất 3 cách 1/Giới thiệu 1 cách dễ tiếp cận 1 ngành nghiên cứu ít được biết đến (lịch sử chữ viết/chính tả) 2/Khía cạnh lịch đại giúp ng đọc nhìn nhận đúng hơn về một số quan điểm về chính tả trên truyền thông đại chúng 3/Giúp chúng ta suy nghĩ sâu hơn về a) chính tả cho phép chúng ta làm gì (ngoài việc ghi chép lời nói) & b) chúng ta có thể làm gì với chính tả (thay đổi nó, chơi vs nó,...)
Sách đc chia làm 5 chương, đi theo chiều dòng tgian lịch sử. Chương 1 bàn về nguồn gốc của chữ viết/việc viết tiếng Pháp. Chương 2 nói về việc dạy và học viết tiếng Pháp. Chương 3 nói về sự phát minh ra chính tả và những thay đổi/phát triển của chính tả tiếng Pháp. Chương 4 nói về tác động của các công nghệ mới, những nhóm ng viết/ng đọc mới lên chữ viết. Chương 5 nói về khi chúng ta vi phạm chính tả (lỗi chính tả và chơi chữ).
Trong chương 1, tác giả tập trung vào những văn bản viết “tiếng Pháp” đầu tiên như “Serments de Strasbourg”, sau đó bàn về lựa chọn bảng chữ cái latinh để viết tiếng Pháp và những vấn đề phát sinh từ lựa chọn này. Vd bảng chữ cái latinh thời ấy có 2 chữ cái “u” và “i” nhưng đc dùng để ghi chép đến tận 4 âm thanh /u, i, j, v/, phải chờ đến sau đó thì chữ “y” và “z” mới đc mượn từ bản chữ cái Hy Lạp qua, và đến thời Trung Cổ mới có chữ “w”.
Bảng chữ cái latinh cũng ko có 1 chữ cái nào để viết âm /tʃ/ (trong “CHeval”, đọc là /tʃ/ trong tiếng Pháp cổ). Nguyên âm lại càng khó hơn, vd như /œ/ (trong neuf) thì phải viết ntn? Nếu ngày nay chúng ta biết tổ hợp 2 chữ cái nào sẽ tạo ra âm nào, ở thời đó đó là cả 1 vấn đề cho ng viết. Đó là chưa kể việc ngôn ngữ mỗi vùng miền có thể rất khác nhau, điều này khiến 1 chữ có thể đc viết rất nhiều cách, 1 phần do phương ngữ ng viết có thể khác nhau, 1 phần do ko có chuẩn chính tả.
Và đó là chưa tính đến yếu tố phong cách chính tả cá nhân của ng viết. Thật v, ở thời Trung Cổ, ng viết có thể tự do quyết định cách viết 1 từ. Trong cùng 1 văn bản, của cùng 1 ng viết, 1 chữ có thể đc đánh vấn nhiều cách khác nhau… Tác giả cũng bàn về lý do tại sao phải viết và kết thúc vs bàn luận về vị trí của phụ nữ trong văn học (nghĩa rộng nhất có thể) thời này. Dù phụ nữ ko có điều kiện trở thành ng viết/đọc như đàn ông, họ có viết và sáng tác. Một số tác phẩm vẫn còn lưu lại đến hiện nay
Trong chương 2, tác giả bàn về việc học và dạy chữ viết. Ai học và ai dạy? Và dạy = phương pháp gì? Tác giả chỉ ra rằng khi dạy bảng chữ cái, chữ viết,... ngta hiếm khi chỉ dạy mỗi cái đó. Vd, trong những sách bảng chữ cái “abécédaire” cho học sinh, tùy vào mỗi thời mà những thông điệp ngầm trong những quyển sách này có thể thay đổi đáng kể. Vào thế kỷ 16, ta thấy những lời răn dạy liên quan đến đức tin, đạo Công giáo. Vd, “A” như trong “Amytié”
Đến Cách mạng Pháp thì thông điệp thay đổi theo hướng chủ nghĩa cộng hòa, thế tục (laïcité). Vd, “A” như là “Assemblée nationale” (Quốc hội). Đến 1900, khi Đế quốc Pháp bành trướng ở châu Á, ở trang “I” và “J” của 1 quyển sách bảng chữ cái, học sinh sẽ đọc “l’Indien et le Japonais sont peu civilisés” (ng Ấn Độ và ng Nhật ko văn minh).
Ngoài abécédaire, còn rất nhiều công cụ dạy học (bảng và phấn) và vấn đề giáo dục (giáo dục nam vs nữ?) khác đc bàn đến. Ngoài ra, đến tận tk17, ngta dạy tiếng Pháp… từ tiếng Latinh. Sau khi học bảng chữ cái latinh, học sinh thường sẽ học đọc những chữ đơn giản trong tiếng Latinh rồi đến đoạn văn ngắn (lời dạy, cầu nguyện,...), những cuốn abécédaire có vd chữ tiếng Pháp rất hiếm, hầu hết là chữ Latinh. Phải từ cuối tk17 thì học sinh mới học đọc tiếng Pháp ngay từ đầu.
Cuối cùng, ko thể bỏ qua phát minh quan trọng trong dạy viết tiếng Pháp: phương pháp đọc-viết chính tả (dictée). Phải đến 1833 thì dictée mới chính thức xuất hiện trong hệ thống giáo dục vì trước đó, vì ko có 1 chuẩn chính tả chung nên ko có lý do gì để dùng phương pháp này cả. Ban đầu những văn bản đc sử dụng thường là những đoạn văn lịch sử, địa lý, đạo đức, sau này thì những đoạn trích văn học đc dùng.
Chương 3 nói về sự phát minh chính tả. Chính tả (orthographe) là 1 phát minh rất gần đây so vs bề dày lịch sử chữ viết. Trong trường hợp của tiếng Pháp, đến tận tk14, 1 chữ vẫn có rất nhiều cách viết. Đến tk 15 thì bớt lại 1 xíu do phát minh ra máy in khiến nhu cầu chuẩn hóa tăng lên. Vào tk 16 thì ko còn nữa, bắt đầu có 1 chuẩn chính tả rõ ràng. Ng in sách muốn sách bán đc ở ngoài vùng quê của mình thì ko thể in sách viết theo kiểu phát âm của vùng mình.
Vào khoảng tk14 trở đi, bắt đầu nổi lên nhiều sáng kiến cải cách chính tả. Bắt đầu vs những ng in sách, vì muốn chữ viết dễ đọc hơn, họ đã thêm dấu phụ như apostrophe (’) và dấu câu. Vd, l’ami thay vì viết “lami” như trước đây, thêm dấu sắc vào “chanté” thay vì viết “[il a] chante” dễ gây hiểu nhầm. Sau những ng in thì là những tác giả, học giả. Họ cho rằng mặt chữ đã trở nên quá khác biệt so vs phát âm và đề nghị cải cách chính tả, bỏ cách viết theo kiểu từ nguyên, nên theo hướng đọc sao viết v
Những ng muốn cải cách chính tả hầu hết ko thành công và Viện Hàn lâm Pháp vẫn là cơ quan có quyết định nhất trong việc chuẩn hóa chính tả Pháp. Qua năm tháng, họ có đề nghị nhiều thay đổi chính tả, vd như việc thêm dấu ^ vào năm 1740 để bỏ chữ “s” ko còn đc phát âm nữa trong 1 số từ (maistre > maître, estre > être). Năm 1878, thay đổi dấu sắc thành huyền trong 1 số chữ (piége > piège, abrége > abrège) [trừ “événement”!!! Tại sao? Ko ai biết], “ë” thành “è” (poëte > poète).
Chương 4 nói về tác động của nhóm ng đọc và ng viết lên chữ viết. Từ tk15 trở đi, việc số lượng ng biết chữ tăng cao đã khiến ng in sách phải thay đổi chữ viết để giúp ng đọc dễ đọc sách hơn. Đến tk 20-21, việc viết trở nên cực kỳ phổ biến vs tất cả mng đã tạo điều kiện cho những thay đổi chữ viết xuất hiện, cụ thể là trong giao tiếp thân mật qua tin nhắn, sau này là trên mạng, blog cá nhân, mạng xã hội,...
Chương 5 nói về khi chúng ta vi phạm chuẩn chính tả và tập trung vào 2 khái niệm “lỗi chính tả” và “chơi chữ”. Nếu lỗi chính tả cực kỳ phổ biến trong tiếng Pháp viết ngay cả ở những ng học thức cao, chúng ta nên đặt câu hỏi tại sao tiếng Pháp lại khó viết đúng đến v. Tác giả chỉ ra những điểm ko nhất quán, thiếu logic trong chuẩn chính tả hiện hành của tiếng Pháp, gợi ý rằng cải cách chữ viết tiếng Pháp là cần thiết.
Nói tóm lại, quyển sách này rất bổ ích và thân thiện vs độc giả ko chuyên. Bất kỳ ai hứng thú vs tiếng Pháp, lịch sử chữ viết và chính tả, ngôn ngữ học lịch sử, chính tả tiếng Pháp,... hay đơn giản là muốn tìm một quyển sách non-fiction thú vị và dễ đọc, đều sẽ tìm thấy những thông tin thú vị trong đây. Đối vs độc giả đã biết về ngôn ngữ học (hoặc cụ thể, ngôn ngữ học tiếng Pháp) quyển sách này vẫn có thể có ích vì nó giới thiệu 1 ngành nghiên cứu ít quan tâm đó là lịch sử chính tả.