háng 7 năm 1949, Rơ ve (Revers), Tổng tham mưa trưởng quân đội Pháp, báo cáo với chính phủ những khó khăn mà quân viễn chinh sẽ phải đương đầu khi Quân giải phóng Trung Quốc tiến xuống biên giới Việt - Trung. Nhưng Rơ ve vẫn tin có thể cứu vãn tình hình bằng cách rút bỏ Cao Bằng và Đông Khê, thu hẹp hành lang Đông Tây, rút ngán những đường nội tuyến để bảo vệ vững chắc đồng bằng Bắc Bộ, và đưa chiến tranh Đông Dương vào chiến lược của Mỹ. Cácpăngchiê (Carpentier), Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương cho rằng việc rút khỏi Cao Bằng và Đông Khê là không cần thiết, bộ đội Việt Minh dù có thêm vũ khí mới của phe Cộng sản cũng chưa trở thành đe dọa với những tiền đồn vững chắc như Cao Bằng. Alétxăngđri (Alessandri), chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ, còn dự tính cả một cuộc tiến công Việt Bắc với quy mô và phương tiện lớn hơn cuộc tiến công mùa Đông năm 1947. Từ Đờ Lát (Jean De Lattre de Tassigny) tới Na va (Hen ri Navarre), đều nung nấu quyết tâm tìm một trận đánh quyết định với chủ lực ta. Tất cả những người chỉ huy quân viễn chinh không bao giờ có ý nghĩ là sẽ thua trong cuộc chiến tranh này. Về phía chúng ta, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng đã hoàn toàn củng cố, nhưng thung đường phía trước vẫn còn rất dài và lắm chông gai.
General in the Vietnam People's Army and a politician. Giap is considered one of the greatest military strategists of all time. He first grew to prominence during World War II, where he served as the military leader of the Viet Minh resistance against the Japanese occupation of Vietnam. Giap was a principal commander in two wars: the First Indochina War (1946–54) and the Vietnam War (1960–75). He participated in the following historically significant battles: Lạng Sơn (1950), Hòa Bình (1951–52), Điện Biên Phủ (1954), the Tết Offensive (1968), the Easter Offensive (1972), and the final Ho Chi Minh Campaign (1975).
Giap was also a journalist, an interior minister in President Hồ Chí Minh's Việt Minh government, the military commander of the Viet Minh, the commander of the People's Army of Vietnam (PAVN), and defense minister. He also served as a member of the Politburo of the Vietnam Workers' Party, which in 1976 became the Communist Party of Vietnam.
He was the most prominent military commander, beside Ho Chi Minh, during the Vietnam War, and was responsible for major operations and leadership until the war ended.
Khi đọc "Đường tới Điện Biên Phủ", đây không đơn thuần là một cuốn biên niên sử quân sự khô khan với những con số cùng những bản đồ tác chiến. Qua sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trí tuệ chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ngòi bút của nhà văn Hữu Mai, cuốn hồi ký hiện lên như một dòng chảy tâm tư đầy trăn trở nhưng cũng cực kỳ quyết đoán để đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ.
Sức hấp dẫn của tác phẩm nằm ở chỗ nó bóc tách được "bộ não" của một cuộc chiến: từ những cuộc họp cân não tại Việt Bắc, sự xoay chuyển linh hoạt trong tư duy từ "đánh nhanh" sang "đánh chắc", cho đến hơi thở của những đoàn dân công hỏa tuyến băng rừng vượt núi. Nếu đã đọc đến những tài liệu liên quan đến cuộc chiến này thì hẳn là không bỏ qua tập "Đường tới Điện Biên Phủ", nó sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn toàn cục hơn về cuộc chiến của người trong cuộc.