Soren Kierkegaard: Subjectivity, Irony, and the Crisis of Modernity examines the thought of Soren Kierkegaard, a unique figure, who has inspired, provoked, fascinated, and irritated people ever since he walked the streets of Copenhagen. At the end of his life, Kierkegaard said that the only model he had for his work was the Greek philosopher Socrates. This work takes this statement as its point of departure. Jon Stewart explores what Kierkegaard meant by this and to show how different aspects of his writing and argumentative strategy can be traced back to Socrates. The main focus is The Concept of Irony, which is a key text at the beginning of Kierkegaard's literary career. Although it was an early work, it nevertheless played a determining role in his later development and writings. Indeed, it can be said that it laid the groundwork for much of what would appear in his later famous books such as Either/Or and Fear and Trembling.
This book is written by Professor Jon Stewart not the television host. That needs cleared up on the main page.
I loved this book. Being a fan of the writings of Kierkegaard I love reading about him just as much as I love reading his works. This book is a great introduction for anyone looking to get into the writings of Kierkegaard or for those that want to see the modern connections to his writings. As the book states he isn't fading into obscurity with each passing day but becomes more and more relevant.
I took the class offered by Cousera (twice) with the same title. The book is pretty much verbatim the course. I think Professor Stewart must have been reading from it during the taping of the videos. I am cool with that. Others might find this as more of a transcript and not supplemental to the course. I actually like it being a transcript because there is so much info being thrown at you during those videos you miss pieces here and there. Its nice to be able to take my time and go over what I don't understand .
Overall this was a great buy and a book I will reread again in the future. I hope there are more courses on Cousera and more books in the future from Professor Stewart.
Một quyển sách tuy có thể xếp vào dòng nhập môn khởi đầu nhưng vẫn cung cấp được một góc nhìn khác biệt, dễ hiểu, và đủ sâu rộng về cuộc đời, tư tưởng, và sự nghiệp của Kierkegaard. Nếu như các cuốn sách giới thiệu về Kierkegard thường chia dòng tư tưởng và tác phẩm của ông thành ba giai đoạn: giai đoạn duy mỹ (aesthetic stage), giai đoạn đạo đức (ethical stage), và giai đoạn tôn giáo (religious stage), thì tác phẩm này chỉ tập trung vào sự ảnh hưởng to lớn của nhà triết học Hy Lạp Socrates lên Kierkegaard, coi đó như một sợi chỉ xuyên suốt để có một cái nhìn bao quát về cuộc đời và tư tưởng của ông. Kierkegaard sinh ra và sống gần như toàn bộ cuộc đời mình ở Đan Mạch, một đất nước coi Christianity là tôn giáo chính thống của quốc gia vào thế kỷ 19. Việc cha ông là một người sùng đạo khắc khổ càng khiến cho gần như toàn bộ các câu hỏi triết học mà Kierkegaard đặt ra và cố gắng giải quyết trong đời luôn chỉ xoay quanh các chủ đề về Christianity. Ngoài việc học tập thần học ở trường đại học với mục đích trở thành mục sư, Kierkegaard còn được tiếp cận với triết học Hy Lạp (Socrates, Plato, Xenophanes...), các trường phái triết học Đức và đặc biệt là Hegel, nhà triết học có ảnh hưởng rất to lớn đến đời sống tinh thần và văn hóa đương thời. Chính trong những năm tháng là sinh viên của đại học Copenhagen, Kierkegaard đã bị ảnh hưởng sâu đậm bởi Socrates và phần nào đó là Hegel, đặc biệt là cách Hegel hiểu và phân tích Socrates. Trên thực tế, Kierkegaard đã lấy Socrates làm chủ đề cho luận văn thạc sĩ triết học của mình (The Concept of Irony), và trong tác phẩm này ông dành phần lớn thời gian tranh luận với Hegel về cách hiểu Socrates. Hegel cho rằng Socrates đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của triết học phương Tây. Trước Socrates, các nhà triết học và khoa học đầu tiên chỉ chủ yếu tập trung mối quan tâm của mình vào thế giới tự nhiên, vào sự vận hành của các vì sao và vũ trụ. Socrates là người đầu tiên hướng sự quan tâm trực tiếp vào thế giới nội tâm của con người, vào cách xã hội con người vận hành, vào các giá trị đạo đức và tâm linh. Trước Socrates, các vấn đề về xã hội và đạo đức được quyết định bởi ý chí của các vị thần thông qua nhà tiên tri ở các đền thờ, hoặc được thông qua bởi tiếng nói của số đông trong một chính quyền dân chủ. Vai trò của cá nhân bị xem nhẹ. Socrates là nhà triết học đầu tiên đề cao tiếng nói của từng cá nhân, đề cao sự suy xét có ý thức của mỗi con người trong từng vấn đề luân lý triết học. Ông phê phán sự thụ động, thiếu suy nghĩ của các công dân thành Athens đương thời. Người ta cho rằng mình thực sự am hiểu các khái niệm như tốt đẹp, ngoan đạo, hiếu thảo, công bằng, tự do... nhưng trên thực tế họ chỉ lặp lại những gì được truyền dạy từ truyền thống và từ các thế hệ trước. Tệ hơn, theo Socrates, họ không ý thức được sự kém hiểu biết của mình, tưởng rằng mình am hiểu mọi chuyện và ngủ quên trên sự hài lòng và tự thỏa mãn. Socrates nhận ra rằng mình là người thông thái nhất, không phải vì ông thông hiểu các giá trị đã nhắc đến, trái lại, ông là người thông thái nhất vì ít nhất ông là người duy nhất tự ý thức được về sự ngu dốt (ignorant) của mình (I am the wisest man alive, for I know one thing, and that is that I know nothing). Để đánh thức người dân khỏi sự lười biếng suy nghĩ và tự thỏa mãn, Socrates lang thang khắp Athens, nhận mình là ngu dốt, đặt ra các câu hỏi cho bất cứ ai ông gặp, mong được mọi người giải thích thế nào là người tốt, thế nào là kẻ xấu, thế nào là đạo đức, thế nào là công bằng, tự do, cái đẹp...Ai cũng nghĩ đó là các câu hỏi dễ dàng và mình đã nắm chắc câu trả lời đến mức họ không còn thực sự dành thời gian suy nghĩ về những điều đó. Bằng sự chất vấn đến tận cùng của mình, Socrates chỉ ra những điều mâu thuẫn trái ngược trong các quan niệm truyền thống, kéo người dân Athens ra khỏi sự tự ru ngủ, giúp họ nhận ra rằng họ không thực sự hiểu những khái niệm luân lý đạo đức tưởng chừng đã nắm chắc, giúp họ nhận ra rằng họ chưa bao giờ dành thời gian để suy nghĩ về các khái niệm đó đến tận cùng bằng sự tự lực của bản thân. Tuy nhiên Socrates không đưa ra bất cứ một câu trả lời nào cho các câu hỏi của mình. Ông cho rằng nhiệm vụ của mình chỉ là đặt câu hỏi, bằng cách đó lật đổ các quan niệm hời hợt dễ dãi truyền thống, hướng người đối thoại vào con đường tự lực suy nghĩ và trải nghiệm dựa trên kinh nghiệm cá nhân. Các cuộc đối thoại của Socrates được ghi chép trong các tác phẩm của Plato luôn kết thúc trong trạng thái bối rối, mơ hồ (aporia) khi không bên nào đạt được câu trả lời cho câu hỏi của mình. Hegel phê phán Socrates là một nhà triết học mang tính tiêu cực (negative). Ông chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong các quan niệm truyền thống, lật đổ lối suy nghĩ và tư duy sáo mòn, nhưng không hề đưa ra một hệ thống quan điểm nào mới, không hề đưa ra bất cứ lời giải nào cho các mâu thuẫn đang tồn tại được ông chỉ ra. Nhiệm vụ của triết học, theo Hegel, không phải chỉ là dừng ở việc hoài nghi, đặt câu hỏi, không phải chỉ là chỉ ra các cực mâu thuẫn trái ngược. Nhiệm vụ của triết học là vượt qua sự hoài nghi, vượt qua được sự tiêu cực (go beyound doubt, beyound the negativity), đề ra một hệ thống quan niệm mới có thể dung hòa các khái niệm mâu thuẫn. Hegel lấy ví dụ về sự mâu thuẫn giữa hai khái niệm tồn tại (being) và hư vô (nothing), tưởng chừng không thể hòa nhập nhưng lại có thể được dung hòa kết hợp bởi khái niệm trở thành (becoming). Socrates chỉ dừng ở mâu thuẫn và hoài nghi, vậy nhiệm vụ của các thế hệ sau, theo Hegel, là phải vượt xa hơn Socrates. Trái ngược với Hegel, Kierkegaard cho rằng điểm quan trọng nhất trong sự vĩ đại của Socrates chính là ở việc ông không đưa ra bất cứ một câu trả lời xác quyết nào, chính là ở việc Socrates chỉ dừng lại ở sự hoài nghi và mâu thuẫn. Với Kierkegaard, Socrates vĩ đại vì ông trọn vẹn là một nhà triết học tiêu cực. Sự dung hòa và kết hợp của các cực mâu thuẫn chỉ có thể đạt được trong suy nghĩ hay trong các theo đuổi triết học trừu tượng, không thể đạt được trong các va chạm bằng xương bằng thịt của cuộc sống hằng ngày. Kierkegaard minh họa điều này bằng một loạt các ví dụ sinh động trong tác phẩm nổi tiếng Either/Or, phần lớn trong đó có thể coi là ví dụ rút ra từ những lựa chọn dằn vặt của chính cuộc đời ông: Anh có thể lập gia đình, sống cuộc đời công dân mẫu mực hoặc anh có thể theo đuổi cuộc sống duy mỹ, phóng túng. Nhưng anh không thể cùng lúc làm cả hai. Anh có thể hoặc cưới một cô gái, trở thành một người chồng người cha mẫu mực, hoặc anh có thể theo đuổi sự nghiệp viết lách, sống khổ hạnh, cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho Chúa, không thể làm cả hai. Anh có thể tự tử hoặc không, không thể vừa tự tử vừa không tự tử. Anh có thể sống hoặc chết, không thể vừa sống vừa chết. Sự dung hòa đạt được trong các suy nghĩ trừu tượng của Hegel nếu áp dụng vào thực tế cuộc sống thì kết quả đối với Kierkegaard chỉ là một sự hời hợt vô vị và nhạt nhẽo. Nhiệm vụ của triết học, đối với Kierkegaard, không phải là việc ông có thể hiểu được điều gì trong các suy niệm trừu tượng. Nhiệm vụ của triết học là giúp ông biết ông phải làm gì với cuộc đời mình. Như vậy, với Kierkegaard, triết học trở thành một trải nghiệm mang tính thực tiễn và cá nhân.
“What I really need is to get clear about what I must do, not what I must know, except insofar as knowledge must precede every act. What matters is to find a purpose, to see what it really is that God wills that I shall do; the crucial thing is to find a truth which is truth for me, to find the idea for which I am willing to live and die.” - The point of view for my work as an author
Kierkegaard không chỉ phân tích và ngưỡng mộ Socrates như một đối tượng tri thức cho luận văn thạc sĩ, ông áp dụng tư tưởng và cách sống của Socrates vào cuộc đời của mình, vào xã hội Đan Mạch thế kỷ 19. Nếu như Socrates chỉ ra sự tự mãn và sự tiếp nhận ù lì thụ động của những người cùng thời đối với các giá trị luân lý truyền thống thì Kierkegaard nhận ra điều tương tự ở các công dân Copenhagen đối với tư tưởng Thiên Chúa. Người ta mặc nhiên coi mình là một Christian chỉ dựa trên việc họ đến nhà thờ mỗi cuối tuần, cầu nguyện trước các bữa ăn hay thậm chí đơn giản hơn chỉ bởi thực tế rằng họ sinh ra và lớn lên trong một đất nước Thiên Chúa, được nuôi dạy bằng truyền thống Thiên Chúa. Với cách như vậy, người ta trở thành một Christian không phải bằng sự suy nghĩ và trải nghiệm cá nhân mà đơn thuần chỉ lặp lại các giá trị truyền thống, theo bước đám đông một cách vô thức. Giống như một con cừu ngoan ngoãn và biết vâng lời trong một bầy cừu. Giống như Athens Hy Lạp thời đại Socrates, vai trò của tiếng nói và quyết định ở mỗi cá nhân bị xem nhẹ. Và cũng giống như công dân Athens, công dân Copenhagen không ý thức được sự thiếu hụt kém hiểu biết của mình, tự tin rằng mình thực sự là một Christian chân chính, thực sự thấu hiểu các tư tưởng và giáo lý Christianity. Bên cạnh sự thụ động của người dân, sự phát triển của hoạt động truyền giáo, sự thịnh hành của triết học Hegel, sự phát triển của khoa học công nghệ mang lại cho con người cảm giác rằng bằng suy luận logic, bằng sự dung hòa và kết hợp giữa các cực mâu thuẫn, chúng ta có thể dễ dàng hóa giải các câu hỏi hóc búa về ý nghĩa của sự tồn tại như một cá nhân, về ý nghĩa của việc trở thành một Christian. Thông qua tư duy triết lý và khoa học, lời giải cho ý nghĩa cuộc đời của mỗi con người dường như là một đáp án có sẵn được giải bởi các thế hệ đi trước, một món hàng có thể rao bán và mặc cả ngoài chợ như bất cứ sản phẩm nào của thời đại công nghiệp hóa. Tiếng nói, trải nghiệm, và cảm xúc thực sự của mỗi cá nhân trong hành trình tìm kiếm chân lý vì vậy càng bị coi nhẹ. (Not just in commerce but in the world of ideas too our age is putting on a veritable clearance sale. Everything can be had so dirt cheap that one begins to wonder whether in the end anyone will want to make a bid - Fear and Trembling). Với sự ảnh hưởng to lớn của triết học Hegel, con người được thúc giục phải vượt qua thế hệ đi trước, dựa trên những điều thế hệ đi trước đã đạt được bằng lý trí và logic để tiếp tục tiến xa hơn trên con đường tìm kiếm chân lý. Theo Kierkegaard, triết học Hegel chỉ có ý nghĩa trong thế giới suy luận trừu tượng. Việc áp dụng triết học Hegel vào thực tếcuộc sống hàng ngày biến con người thành cỗ máy suy luận logic vô cảm. Trái lại, Kierkegaard cho rằng con người không thể học được điều gì nếu không thực sự trải nghiệm từng điểu một trong cuộc sống bằng cảm xúc, bằng nỗi đau và bằng đam mê. Điều quan trọng nhất mà mỗi con người, mỗi thế hệ cần không phải là tư duy logic trừu tượng. Điều quan trọng nhất là niềm đam mê với cuộc sống. Triết học Hegel suy nghĩ và chiêm nghiệm cuộc sống như từ vị thế của một người quan sát bên lề, triết học Kierkegaard thúc giục con người lao vào tận hưởng mọi nỗi đau, mọi niềm vui của cuộc sống bằng toàn bộ đam mê. Chỉ khi nào vai trò của trải nghiệm cá nhân được đề cao, con người mớ i thực sự có ý thức và trách nhiệm với mỗi hành động và lựa chọn trong cuộc đời. Chân lý được truyền dạy từ người khác, tiếp thu không suy nghĩ từ thành quả của thế hệ đi trước là một thứ chân lý thứ cấp và rẻ tiền. Tương tự triết học Hegel, các nhà truyền giáo Thiên Chúa bằng các lập luận logic chứng minh sự tồn tại của Chúa và các giáo lý Christianity như một thực tại khách quan, nhằm chỉ ra rằng việc trở thành một Christian là một điều hiển nhiên nên làm và hết sức dễ dàng. Đối với Kierkegaard, đó là hành động bóp méo không thể chấp nhận. Đức tin là một trải nghiệm cá nhân tột cùng không thể diễn giải chỉ bằng logic và tuyệt đối không thể là một điều dễ dàng. Dễ dàng sao được khi bạn đặt trọn vẹn toàn bộ niềm tin và ý nghĩa của cuộc đời bạn vào một điều gì đó và khiến mọi hành động mọi quyết định của bạn đều xoay quanh thứ đó. Đức tin Thiên Chúa, theo Kierkiegaard, vì vậy là một đức tin mà những người Thiên Chúa phải dành từng giây từng phút một của cuộc đời mình để đắn đo, trăn trở, thậm chí vật lộn. Và nhất quyết tuyệt đối đó không phải là một điều ai đó có thể làm hộ người khác. Việc biến Đức tin thành một thứ có thể có được dễ dàng như điều mà xã hội hiện đại đang làm, với Kierkegaard là một sự sỉ nhục. Ông tự hỏi có ai còn hiểu được ý nghĩa thực sự của việc có Đức Tin hay mọi người chỉ sở hữu một phiên bản đức tin mục ruỗng và thối nát, khi ai ai cũng mặc nhiên coi mình đã có được nó và mong muốn vượt xa hơn. Trong khi những người Thiên Chúa đầu tiên phải đánh đổi cuộc sống an lành, gia đình, vợ con thậm chí cả mạng sống cho đức tin của mình, thì xã hội hiện đại tạo ra một phiên bản tôn giáo với các thầy tu đầy quyền lực , sống trong giàu sang , tận hưởng địa vị quý tộc và rao giảng phiên bản đức tin dễ dãi để kiếm lợi cho bản thân. Phê phán đả kích mạnh mẽ sự tự mãn và dễ dãi trong việc thực hành tôn giáo của xã hội đương thời, nhưng giống như Socrates, Kierkegaard không đưa ra một câu trả lời xác quyết nào cho các giáo lý Christianity, cho ý nghĩa của việc trở thành một Christian, cho câu hỏi về đức tin. Ông đặt ra các câu hỏi, ông lật đổ các niềm tin và quan niệm hời hợt, vạch mặt các câu trả lời dễ dãi, nhưng ông không đưa ra bất cứ câu trả lời cụ thể nào trong các tác phẩm của mình. Khác với lòng hăm hở vượt qua sự tiêu cực và hoài nghi của khuynh hướng triết học đương thời (go beyond doubt), Kiekegaard dừng lại ở đó, thậm chí giữ cho nỗi hoài nghi và mâu thuẫn luôn sống động, luôn tươi mới, luôn không có một lời giải cố định. Việc giải quyết chúng cụ thể ra sao, ông dành cho mỗi bạn đọc. Có thể sẽ có người phê phán cuốn sách “nhập môn” này tập trung quá nhiều vào ảnh hưởng của Socrates lên Kierkegaard và vào luận văn thạc sĩ triết học của ông mà bỏ qua nhiều điểm quan trọng trong các tác phẩm nổi tiếng khác như The Sickness Unto Death and The Concept of Anxiety. Nhưng như đã nói ở đầu, việc tập trung vào Socrates có lẽ thực sự tạo ra một cái nhìn tổng thể xuyên suốt về tư tưởng và giúp cho việc tiếp thu phần nào các tác phẩm không hề dễ đọc của Kierkegaard. Cuốn sách cũng giải thích được vì sao một nhà triết học mang nặng tư tưởng thần học như Kierkegaard lại coi Socrates, một nhà triết học vô thần, là thần tượng giúp ông trả lời các câu hỏi về Christianity. Tương tự, có vẻ là một điều trái logic, khi một nhà triết học tôn giáo như Kierkegaard lại đươc coi là ông tổ của triết học hiện sinh. Trên thực t, những trăn trở của Kierkegaard về các chủ đề Thiên Chúa có thể được suy rộng và áp dụng đối với tất cả các vấn đề cuộc sống, với câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại như một con người. Kierkegaard không chấp nhận việc một cá nhân coi mình là một Christian một cách mặc định dễ dãi và thiếu suy nghĩ, ông đối chiếu hình ảnh những Christian đầu tiên để làm tiêu chuẩn cho xã hội hiện đại. Bạn có thể áp dụng điều này vào mọi thứ quanh mình. Bạn nghĩ mình là một Phật tử, một đảng viên đảng cộng sản, một nhà báo cách mạng, một nhà văn, một nhà khoa học? Bạn đã bao giờ suy nghĩ và trải nghiệm thực sự sâu về điều đó, về quyết định của mình hay chỉ mặc định tự huyễn, tự lừa dối bản thân đơn giản chỉ vì bạn sinh ra trong một gia đình Phật tử, gia nhập Đảng Cộng Sản vì ai cũng làm thế, trở thành nhà báo nhà văn nhà khoa học vì bố mẹ và họ hàng khuyên bảo. Bạn đã bao giờ tưởng tượng về những khó khăn gian khổ mà các Phật tử đầu tiên, những đảng viên đầu tiên đã phải trải qua và so sánh nó với điều kiện nhung lụa hiện tại mà bạn có được?
“Out of love for mankind, and out of despair at my embarrassing situation, seeing that I had accomplished nothing and was unable to make anything easier than it had already been made, and moved by a genuine interest in those who make everything easy, I conceived it as my task to create difficulties everywhere.” - Concluding Unscientific Postscript
This is a great book that serves as a biography to both Kierkegaard’s personal and intelectual life as well as a introduction to some key components in his works, such as the importance of Socrates and the aporia through negative philosophy, his conflicts with Hegelian philosophy and the concepts of irony, subjectivity and Christianity. It’s really well organized and the book helps a lot not just to the understanding of the historical context in which Kierkegaard was living and writing about, but also his relevance in today’s modern world.
In "Soren Kierkegaard: Subjectivity, Irony, & The Crisis of Modernity," professor Jon Stewart adapts his famous online course from the University of Copenhagen into a full-length book; in it, he argues for the importance of Kierkegaard's master dissertation "The Concept of Irony" and, in particular, Socrates for a proper understanding of the Danish religious author's life and work.
Stewart thinks that the importance of this early text of Kierkegaard's oeuvre has not been fully recognised in Kierkegaard scholarship. While this is understandable, since Kierkegaard himself directly or pseudonymously claims that his authorship began with the work "Either/Or," Stewart convincingly postulates that this text functions as a "major interpretative key to the rest of [Kierkegaard's] writings" because it prepared the Danish religious author himself for the authorial task that would go on to define his life, that is, to "translate the achievement of scientific scholarship into personal life, to appropriate it personally" (114, 192). According to Stewart, Kierkegaard was thoroughly fascinated by the historical Socrates, particularly in the way in which he had no positive doctrine to speak of but thoroughly showed his contemporaries (the Sophists, among others) that they did not truly know what they thought they knew, and saw the need for such a one in his own time, particularly as a response to bourgeois complacency and their "false" treatment of the Christian religion (especially when compared against the genuine self-sacrifice that biblical Christianity demands).
This book functions best as a work of the history of ideas. Its strength lies in its readability and vivid description of the various personalities involved in Kierkegaard's life e.g., Heiberg, Martensen. In this particular aspect, Stewart manages to recapture for his reader a sense of what it must have felt like to be in Kierkegaard's Copenhagen, especially in how many students were thoroughly enthused by the new, exciting strands of philosophy (Hegelianism) coming in from Germany at that time. It should also be noted that, as an introduction to Kierkegaard's thought, Stewart presupposes no familiarity with Kierkegaard's writings and manages for the most part to capture the essence of that which is being said in these many works. This comes across most saliently in Stewart's incisive exposition of "The Concept of Irony," a lesser-known text amongst Kierkegaard's many works.
That said, the textual interpretations of Kierkegaard's various works e.g., "Either/Or," "Fear and Trembling," and "Practice in Christianity" that Stewart carries out in the last two chapters of his book are not particularly insightful; they suffer from being described in an overtly general and vague sense, and are to some degree misrepresented. This is particularly egregious in the treatment of the "Concluding Unscientific Postscript," where Stewart seems to be misreading Kierkegaard, or more accurately Johannes Climacus, in espousing a concept of "subjective truth" divorced from objective reality. It would be far more accurate to say that, while recognising the validity and importance of the striving towards objective truth, which can only be an approximation in the world of becoming, Climacus was more interested in emphasising that truth must be existentially appropriated by the individual in order for it to be truth in the fullest sense.
Furthermore, the main flaw with this work has to do with the conclusions to his individual chapters, where Stewart is overtly eager to explicitly spell out the relevance of Kierkegaard's thought for the present day. Not only does this method seem thoroughly un-Socratic in its didactic approach, it flattens Stewart's textual interpretations into banal digressions that have little to no connection to the main point of these texts. It would have been far better, I think, for Stewart to take a leaf out of Kierkegaard's book by adopting more of the Socratic maieutic approach (which is all the more ironic because it is a major theme of this book). By doing so, the reader is provoked into thought and therefore into existentially appropriating for himself or herself the relevance of these texts for his or her life. Perhaps the best way of putting it is that unlike "The Concept of Irony," Stewart's book treats of irony but is itself not irony.
It's hard to write standalone piece about Soren Kierkegaard, a philosopher with more "protos" than any other. Soren was a forerunner to modern psychology and existentialism. Although this is arguably how he is seen by the majority of people reading his work - as it is what sets him apart from the likes of Hegel, he was also steeped in the philosophies of antiquity and his contemporaries.
A familiarity with Plato, Xenophon, and Aristophanes is helpful but not necessary.
While many may find the biographical details lacking, and understandably as they are especially important to Kierkegaard's body of work, I believe it would have detracted from what was intended to be an accompaniment to a single semester university course focused on a specific facet of his thought.
If nothing else, a reader will be impressed by Kierkegaard's prescience. As a companion volume, I would recommend Kierkegaard as Psychologist by Vincent Mccarthy.
Kierkegaard has been considered as the most influential figure of our time and many different schools of thought tried to expropriate his wealth of works to their own. However, capturing his true means and endeavours was an old desire of mine which eventually settled with reading this book. Finding his negativity, his perception of irony and aporia and his unique appropriation of Socrates can be an intellectual guideline. And Jon Stewart tells us about all of these and much more in an effortless story-like way that you know you will come back to the book again and again.
Really enjoyed the casual language and accessibility of the text. It's a bit unusual in the sense that it takes the often ignored early work Concept of Irony (K's masters thesis) and uses it and its subject Socrates as a lens to view K's entire project. K himself didn't even consider this work as as part of his authorship, but it's clear that it was setting the foundation for his project as a whole. This is explained not only convincingly but also in an engaging way.
Incidentally this is also the source text for a free Coursera course I never finished many years back!
bom livro! exploração da obra de Kierkegaard e sua relação com Sócrates. não é o assunto que mais me chama atenção em Kierkegaard, então algumas das passagens aqui não me interessaram. dito isso, é um panorama bem legal da obra desse filósofo tão interessante
Good introduction to the life and works of Soren Kierkegaard and his interest in and understanding of Socrates. This book has sparked in me a desire to read the writings of Kierkegaard.
Excellent supplement the Cousera course. Provides good introduction not only to Kiergaard also to Socrates irony and Hegel's influence on C19 philosophy.