Một cuốn sách dễ chịu và hoài cổ, rất thích hợp khi tranh thủ ngồi đọc và ngẫm nghĩ vào các buổi trưa văn phòng.
Là người sinh sau năm 86, tức là ngay sau năm kết thúc thời kì bao cấp, tôi vẫn còn nhớ ngày nhỏ con phố tôi ở nó vắng như thế nào, ít người ra sao, trẻ con hoàn toàn có thể đi lại tự do trên hè phố, dưới lòng đường mà không sợ xe cộ va phải như thế nào. Và khi đọc những trang sách này, tôi hoàn toàn có thể mường tượng trong đầu rất rõ ràng về thời điểm đó, khi tôi chỉ 3-4 tuổi.
Những hình ảnh miêu tả gợi hình, gợi suy tưởng, những chiếc TV đen trắng hiếm hoi thời đó, bao nhiêu người trong xóm tụ tập trước TV, xem bộ phim soap opera.. đều được tác giả miêu tả rất dễ hình dung.
Thích nhất và buồn nhất, là đoạn xuất hiện Trịnh Công Sơn, tuy ngắn ngủi và điểm xuyết, nhưng ko khỏi ngậm ngùi..
Với những người sinh ra sau khi đất nước đã mở cửa như mình, mình khó có thể hiểu được hết những câu nói cửa miệng của các cụ "thời bao cấp thế này... thời bao cấp thế kia..." Quyển sách hồi tưởng thời bao cấp của tác giả, từ lúc sinh ra lớn lên tại vùng biển Quảng Trị cho đến giai đoạn đi học và đi làm tại Hà Nội. Trong đó, hình ảnh Hà Nội thời bao cấp gợi lên nhiều cảm xúc hơn cả, có thể vì nó thân thuộc với bản thân mình hơn. Bi kịch 1: Nhà ở. Thời bao cấp không ai có tiền để mua đất làm nhà. Nếu có tiền cũng không dám phô trương của cải. Tất cả chấp nhận chui rúc trong những căn hộ chật hẹp Nhà nước cấp cho.aVới những người sinh ra sau khi đất nước đã mở cửa như mình, mình khó có thể hiểu được hết những câu nói cửa miệng của các cụ "thời bao cấp thế này... thời bao cấp thế kia..." Quyển sách hồi tưởng thời bao cấp của tác giả, từ lúc sinh ra lớn lên tại vùng biển Quảng Trị cho đến giai đoạn đi học và đi làm tại Hà Nội. Trong đó, hình ảnh Hà Nội thời bao cấp gợi lên nhiều cảm xúc hơn cả, có thể vì nó thân thuộc với bản thân mình hơn.
Bi kịch 1: "Nhà ở. Thời bao cấp không ai có tiền để mua đất làm nhà. Nếu có tiền cũng không dám phô trương của cải. Tất cả chấp nhận chui rúc trong những căn hộ chật hẹp Nhà nước cấp cho. Ở khu Trung Tự, cán bộ trung cấp sổ C mới được phân một căn hộ có 2 phòng với diện tích 4-5 m2/người, gồm 2 loại, 24 m2 và 28 m2 (cả khu bếp, nhà xí, nhà tắm), gọi là căn hộ "khép kín."
Bi kịch 2: "Vòi nước chung cư. Có quá ít vòi nước ở những khu chung cư. Luôn thấy cảnh dãy xô chậu kéo dài vài trăm thước xếp hàng trước các vòi nước công cộng."
Bi kịch 3: "Xếp hàng. Ở Hà Nội, những năm 60, 80 của thế kỷ trước, hình tượng nổi bật nhất là xếp hàng. Mua bất cứ gì cũng phải xếp hàng. "
Bi kịch 4: "Ma trận tem phiếu. Về thực phẩm có phiếu thịt, phiếu đường, tem mì chính, tem bìa đậu phụ, bìa mua cá, rồi bìa mua nước mắm, xì dầu, rau... Sổ gạo cấp cho từng đối tượng, loại 24kg, 15kg, 13kg, 11kg, 9kg... theo tiêu chuẩn quân đội hoặc lao động nặng như thợ lò, công nhân, cán bộ công chức, trẻ con. ... Thiết yếu sau gạo là vải. Phiếu vải cho cán bộ Nhà nước mỗi người 5 mét một năm, nhân dân 4 mét. Nghĩa là chỉ đủ may một bộ quần áo dài và chiếc quần đùi. Phiếu vải nào cũng có thêm mấy ô phụ đánh số A, B, C, D để mua màn, chăn bông hay vải màn. Chi li lắm. Phiếu mua phụ tùng xe đạp chia ra từng ô: lốp, săm, phanh, pô-tăng, vành, ...."
Chuyện tình yêu thời bao cấp. Có nhiều câu ca dao được truyền tụng trong đời sống, đọc lên thấy buồn nhưng đó là sự thật. Nghe cha nhớ kỹ điều này Phải con ông cốp, xấu gầy cũng yêu Ông cha cực khổ đã nhiều Ô dù bám lấy, phải liều mới may.
Thời nay đọc thơ con gái chọn chồng thật tội nghiệp Một yêu anh có Sei-ko Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng Ba yêu nhà cửa đàng hoàng Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng Thủ dô Năm yêu không có bà bô Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về Bảy yêu anh vững tay nghề Tám yêu sớm tối đi về có nhau
"Giai đoạn điển hình nhất thời bao cấp phải nói đến năm 1975-1986. Cả một bộ máy duy ý chí, thích làm gì thì làm, không cần tính đến hiệu quả kinh tế và xã hội... Tháng 9 năm 1985, để củng cố mãi lực của đồng tiền đang ngày càng mất giá, Chính phủ đã quyết định đổi tiền. 10 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới. Mỗi gia đình chỉ được đổi tối da là 2000 đồng tiền mới. Số tiền vượt con số trên phải nộp vào trương mục nân hàng. Quy định này đã xoá sổ vốn tích cóp trong nhiều năm của nhiều người một cách oan uổng." "Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam lúc đó đã sai lầm khi lý lẽ rằng bằng cách đổi tiền với hối suất 10 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới, giá trị của đồng tiền sẽ tăng gấp 10 lần... Việc đổi tiền gây ra cảnh khan hiếm tiền tệ trong lưu thông thị trường. Theo con số thông kê, để trả lương, Nhà nước lại phải in thêm tiền với khối lượng gấp đôi bình thường nên hậu quả là vật giá lại tăng mạnh. Sang năm 1986, mức lạm phát lên đến 774,7% làm cho nền kinh tế kiệt quệ, đứng trên bờ vực thẳm... Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985... Riêng các mặt hàng nông sản, so sánh vật giá năm 1986 với năm 1976 thì tăng 2000%." "Để chống lạm phát, lãnh đạo nhà nước lại nghĩ ra một chính sách kinh tế còn bất cập, khốn khó cho dân chúng hơn nữa. Gọi là ngăn sông cấm chợ rất phản khoa học, trái với xu hướng thế giới. Tức là cổ vũ hình thức sản xuất tự cung tự cấp, đàn áp, cấm đoán buôn bán theo thị trường." "Mãi đến năm 1987, ông Võ Văn Kiệt ký quyết định bão bỏ ngăn sông cấm chợ, mới giải toả được phần nào. Chúng ta hay nói Đại học Đảng lần thứ VI (1986) là đại hội đổi mới. Thực ra không phải. Đến năm 1988, tình trạng ngăn sông cấm chợ vẫn xảy ra, người dân vẫn không được tự do buôn bán trên thị trường. Mãi đến năm 1990, công cuộc đổi mới mới thực sự bắt đầu." Tuy nhiên, đến thời kỳ bắt đầu đổi mới (1988-1990), nhiều cán bộ cũng mất vốn liếng vì "huy động vốn" điển hình là vụ nước hoa Thanh Hương. Ngoài ra còn phải mua "Trái phiếu xây dựng Tổ quốc"
Quyển ký viết về Thời bao cấp đồng thời cũng là những kỷ niệm riêng của tác giả.
Sách dài chỉ 220 trang, tự đặt ra cho mình mục tiêu sẽ đọc xong trong 1 tuần hoặc nhanh hơn. Thế nhưng vì bận bịu hoàn thành bài tập nhóm sắp hết hạn; rồi chuẩn bị đón Tết, chạy lên chạy xuống 2 bên nội – ngoại của con, sau đó lại rơi vào tình trạng hưởng thụ hậu Tết; bắt đầu đăng ký học cho con và làm quen với việc chuẩn bị và đưa đón con đi học; sau nữa là xem bài và luyện để chuẩn bị thi kết thúc môn… Hàng chục lý do nhưng chung quy vẫn do mình Lười. Thôi, không đổ thừa cho khách quan nữa mà phải thẳng thắn và thành thật nhìn ra sự biếng nhác của bản thân: 1 quyển sách mà đọc gần 2 năm trời, dự kiến đọc xong vào cuối năm ngoái mà kéo đến mãi đầu năm nay mới xong.
Có lẽ vì mỗi ngày chỉ đọc chút xíu nên mình có nhiều thời gian để suy ngẫm về những gì được đọc trong ngày nhiều hơn. Vừa đọc vừa cảm hơn về cuộc sống thời đó và thấy mình thật may mắn khi được sống ở hiện tại.
Sách hay ngay từ cái Tựa: “Chuyện thời bao cấp bây giờ nghe như chuyện cổ tích… Phải kể lại để lớp trẻ thấy ý chí của cha ông đã vượt qua cái cũ, cái lỗi thời, vượt qua cơ chế luật lệ hà khắc đã ngáng đường đi lên của mình như thế nào… Tôi muốn gửi tới thế hệ 7x, 8x, 9x cái thời mà cha ông họ đã sống để họ yêu thêm thế hệ đi trước và tránh cho được những gì mà thế hệ trước đã lầm lạc”.
Đọc để thương người mạ (mẹ) Quảng Bình, muốn mở cái quán hàng nhỏ để kiếm sống nhưng chính quyền không đồng ý vì cho rằng đó là “mầm mống tư bản”, “phản xã hội chủ nghĩa”, thế là mạ phải quang gánh trên vai, không mở cửa hàng tư nhân thì chính quyền không cấm. Mạ lội bộ năm sáu mươi cây số mỗi ngày để mang nông sản từ chợ về làng biển đổi cá rồi lại mang cá từ làng biển ra chợ, tất bật từ 2h sáng đến khi tối mịt mới đảm bảo được 5 miệng ăn trong nhà.
Đọc phần “Phim về làng” để hồi tưởng lại những kỷ niệm về chuyện xem ti vi của xóm mình những năm 97, 98. Ti vi thì hiếm, lại là ti vi trắng đen, phim truyền hình thì ít, chẳng có truyền hình cáp hay kỹ thuật số gì sất, ấy thế mà vui, cả xóm ai cũng chuẩn bị 1 cái ghế mũ nhỏ ngồi trước cái ti vi coi y chang như phim chiếu rạp (dù bị muỗi cắn muốn chết). Coi rồi bàn luận (bây giờ vô rạp coi phải giữ trật tự, cười lớn 1 chút thì tên kế bên đã quay sang dòm rồi), rồi tiếc nuối khi tập phim hết vào đoạn cao trào, phải đợi đến mai mới biết được diễn biến tiếp theo. Chẳng có nhiều sự lựa chọn, chỉ 1 đài duy nhất nên bộ phim nào đang được trình chiếu thì cứ y như rằng cả thị trấn đi đến đâu cũng chỉ nghe về mỗi bộ phim ấy (cho nên không muốn bỏ tập phim nào hết vì sợ không có chuyện để tám với bạn bè).
Dậy sóng năm mình học lớp 5 (2000) là Hoàn châu cách cách. Đi đến đâu cũng thấy Tiểu Yến Tử và Hạ Tử Vy. Cặp sách, tập vở, viết đều in hình những nhân vật trong phim, cả những miếng đề can, nhãn dán tập, hay mấy tấm hình (card) như lá bài hiện nay cũng vậy. Vui nhất là ở chợ khi đó người ta còn bán những cái mão để trẻ em đội đầu chơi y chang như nhân vật trong phim. Khoái nhất là mão Hàm Hương, đội lên rồi và ước gì mình cũng đẹp, cũng thơm như nàng.
Rồi chẳng có tạp chi hay báo giấy, báo mạng gì, tin tức thì cứ truyền miệng và theo gió mà đưa đi thôi. Nào là chuyện cái ông đóng vai Tôn Ngộ Không vì đóng phim riết rồi giống khỉ mà bị vợ bỏ (kêu tên nhân vật luôn chứ có biết tên thật của ổng là Lục Tiểu Linh Đồng đâu), nào là tin động trời khi nghe nói “Hàm Hương ngoài đợi thực” bị xe cán chết, thương lắm. Rồi tin tận thế vào năm 2000, 1 chén vàng không thể đổi được 1 chén gạo đâu. Chẳng biết thực hư nhưng vẫn cứ lo, cứ sợ, cứ muốn để dành thật nhiều gạo trong khạp (biết đâu tới tận thế mình đổi lấy được thật nhiều vàng, ráng qua cái tận thế thì mình sẽ giàu to – y chang việc tích trữ và làm giàu từ mua bán vũ khí trong Chiến tranh thế giới của Mỹ vậy khà khà)…
Có những đoạn vừa đọc vừa rớm nước mắt vì thấy thương, thấy cảm. Có đoạn phải bật lên cười ha ha cho sảng khoái vì khoái thiệt.
Yêu đương lúc trước khổ nhỉ, chỉ hôn nhau thôi mà phải bị kỷ luật nếu bị nhìn thấy. Học trò lúc trước sướng chứ, vì họ chỉ vượt khó để học, còn nay tụi mình phải vượt qua cái sướng để học, thế mới khó chứ. Họ được đánh giá đúng năng lực, học thật chứ không học vì thành tích. Sướng thật chứ đùa à. Nghệ sĩ, nhà báo thời ấy cũng sướng. Nghệ sĩ chơi mà không lo chết đói, nhà báo viết theo chỉ tiêu, theo kế hoạch cũng chẳng lo tờ báo của mình ế. Vỡ lẽ ra vì sao hiện nay nhiều khách sạn, nhà nghỉ phải cắt đầu của các đôi dép họ để trong phòng, họ sợ lấy cắp. Giào ui, “nhân dân” mình cũng tệ, họ tệ bởi họ nghèo quá, thiếu thốn quá…
A nicely written memoir, with a soft-spoken narrative voice, about the "subsidy period" in North Vietnam (and later the whole Vietnam), when everything is rationed yet there is nothing to ration.
To someone who was born way after Doi Moi, this period is mind-boggingly bizarre to the point that it feels surreal. The "settings" is like something out of a Orwellian novel, but the soft-spoken writing style which tries to also highlight the bright side of humanity during a time of extreme hardship gives this memoir a tinge of warmness. Perhaps a bit too gentle and heartwarming (?), as I can sense that the author is being too apologetic or even defensive about the issue of corruption that took place within his workplace and within the whole system.
Overall, a potentially great primary source for anyone who's interested in the postwar "construction of socialism" in Vietnam. I find it weird that there hasn't been any historical research which examines the real consequences of "socialist" policies during this period. It is obviously shown in this memoir that equality among classes is never realized even during the heyday of socialism in Vietnam. New inequalities are created, reproduced and deepened as structural consequences of state policies that prioritize the bureaucratic system and its members over the peasants and other non-state-affiliated social groups. Activities that cannot be categorized as anything other than capitalist emerge and at times even encouraged by communist institutions. Everything is highlighted in this memoir. At the end of the memoir, you might even want to question whether if "socialism" is even a useable framework for understanding pre-Doi Moi Vietnam. State capitalism could be an alternative view, and subsidy period's state capitalism is a f*cked up case, I guess.
Thời bao cấp khổ lắm. Câu cửa miệng của thế hệ trước, mình nghe hoài mà không để tâm lắm, chỉ biết loáng thoáng nghèo đói, tem phiếu, xếp hàng. Một lần ra Hà Nội công tác, mình tình cờ được dẫn đi ăn ở 'Cửa hàng ăn uống mậu dịch số 37', nhưng cũng chưa cảm được gì nhiều.
Mấy hôm rồi xem phim tài liệu 'Việt Nam thời bao cấp' của đạo diễn Trần Tuấn Hiệp được trình chiếu ở Liên Hoan Phim Tài Liệu Châu Âu - Việt Nam, mình mới bắt đầu hứng thú tìm hiểu thêm. Thế là mò đến cuốn sách này. Và rồi em nó được khai sáng, biết đến 'thế giới khác ở Việt Nam' một thời không xa lắm! Phải công nhận thế hệ trước mình giỏi quá, không chỉ gồng mình vượt qua được đời sống khắc nghiệt tù túng, mà còn để lại bao nhiêu câu thơ tếu để thấy 'đời còn dễ thương'.
Nhờ sống trọn vẹn trong thời bao cấp, tác giả cho mình được một cái nhìn khá rộng và chi tiết ở nhiều góc độ của xã hội trong giai đoạn này, theo dòng thời gian từ lúc thơ ấu trước và khi chế độ bao cấp bắt đầu, đến lúc học hành, yêu đương, làm việc, cưới hỏi, lo nhà ở... Đọc cuốn này rất thấm cái khổ của cha ông, nhưng không bị cảm giác nặng nề, nhiều khi còn tếu tếu. Ngạc nhiên nhất là cái tình trong những năm tháng khốn khó này. Bước qua thời kì đổi mới, con người ta hình như cũng 'đổi mới' khi biết làm kinh tế. Khi hình dung được những gì người lớn trải qua, mình mới hiểu và lí giải được những nét tính cách ở họ được hình thành qua hai giai đoạn 'bao cấp' và 'đổi mới' này.
Ấn tượng với bác 'vua lốp' Nguyễn Văn Chẩn, người chi hay rứa.
Cụm từ thần thánh "thời bao cấp" nhắc đến là cả nỗi ám ảnh không dứt với biết bao người đã trải qua, nhưng đồng thời là sự tò mò của những người trẻ như mình. Đọc mà không tưởng tượng được sống khổ như thế mà sao con người ta vẫn sống được, bây giờ người ta sôi sục vì thực phẩm bẩn, còn mấy chục năm trước thậm chí người ta uống nước pha với cồn giả bia, bã trà pha lại nước lần 2. Đó cũng là cái thời vật đổi sao dời, giàu nghèo chỉ trong một cái chớp mắt như chương 'Phải sống'
Cuốn hồi ký rất hay về thời ngày xưa khó khăn mà những đứa như mình chẳng thể tưởng tượng nổi. Nó thoả mãn phần nào sự tò mò của mình về cuộc sống bao cấp với những câu chuyện nhiều chỗ đáng ghét nhưng cũng rất đáng yêu, đáng quý; sự chân thực, dở khóc dở cười mà nhiều khúc đọc xong mình phải bật cười thành tiếng …
Truyện viết trên góc nhìn cá nhân của tác giả về những việc, những người mà tác giả đã trải qua, đã gặp qua thời bao cấp. Đọc cuốn sách này là để biết đã có một thời kỳ nước ta đói kém mê muội như thế, đồng thời cảm nhận được cái ý chí vươn lên của con người thời đó.
This entire review has been hidden because of spoilers.
Nhờ cuốn sách này mà mình đã có 1 cuộc trò chuyện rất thú vị với ba mẹ, và càng thấm thía nội dung của nó nhiều hơn. Quả là 1 thời đại...mà mình tin rằng chẳng ai muốn sống lại lần thứ 2
Ông bà ngoại tôi quê ở vùng Đông Hà Quảng Trị nhưng gia đình dời ra Hà Nội từ lâu vì ông làm cán bộ văn hoá. Vùng đất miền Trung tôi chẳng biết nhiều, mà kí ức đậm sâu nhất của tôi về nó là khi ông ngoại mất, tôi đưa di hài ông về vùng biển Quảng Trị, cát, nắng, gió, con người mặn mòi. Mùa hè miền Trung năm ấy không khí nóng hầm hập, khô mặn lại với nỗi buồn in mãi trong tôi. Đọc "sống thời bao cấp" nhà văn Ngô Minh viết, không hiểu sao tôi cứ nhớ về hình ảnh ông ngoại dáng người thấp bé đôi mắt lấp lánh, nhớ về biển Đông Hà mùa hè năm ấy cứ miên man một nỗi buồn thương. Sống qua cái thời kì gian khó lạc hậu ấy, hẳn có thể hiểu vì sao ông tôi cho con cái hàng trăm triệu dựng nhà, đi học, nhưng gom từng hào ăn xôi, cái quần đùi mình mặc rách cũng tiếc không chịu bỏ đi. Bà nội tôi bây giờ vẫn không bỏ thói quen đan áo cho con cháu từ thời phải đan len bán cho cửa hàng mậu dịch, nuôi ba người con trai lớn ăn học qua thời bao cấp mà đồng lương nhà giáo chẳng đủ ăn. Nghe chuyện Ngô Minh kể, dù cái thời mình sinh ra chỉ còn sót lại một vài hơi hướng nhỏ nhoi, cũng thấy thân thương và tê tái, thế thời sao mà oái oăm thay, chế độ sao là ấu trĩ thay, để nhiều cảnh đời sao mà éo le thay. Tôi đến với quyển sách này với hứng thú nhẹ nhàng vì những bức ảnh minh hoạ, nghĩ rằng nó là quyển sách viết theo lối báo trí giải trí, ai ngờ bắt gặp phải một quyến sách in dấu tình người không hề thiếu sâu đậm, dù văn phong thì vẫn cố gắng điềm nhiên và khách quan (không viết thế thì mấy ông nhà nước sao cho xuất bản!), nhiều lần tìm thấy mình sởn gai ốc, rớm nước mắt thương những cảnh đời tan tành vì cái chế độ bao cấp xhcn, nhiều lần thấy mình nhớ ông bà và những kí ức tuổi thơ da diết lúc nào không hay... Nhưng thôi, đọc để biết vậy, chứ chẳng muốn đọc lại nữa. Vì quyển sách này buồn quá! Mà cái gì buồn, ta lặng lẽ cất nó đi thôi, để còn mà sống tiếp.