“...I never saw another butterfly…” là cuốn sách tập hợp những bức tranh và các bài thơ được sáng tác bởi trẻ em trong trại tập trung Theresienstadt ở Terezin, khu vực ngày nay thuộc Cộng hòa Czech, trong khoảng thời gian 1942 - 1944. Trước đây khi nhắc đến trại tập trung của Đức Quốc xã cùng sự tàn bạo của Holocaust, người ta thường hay nghĩ ngay đến Auschwitz, Buchenwald hay Birkenau. Nhờ cuốn sách này, mình mới biết đến thêm một trại tập trung khét tiếng nữa, được xây dựng nên với mục đích che đậy những tội ác thực sự của Đức Quốc xã.
Nếu Auschwitz được mệnh danh là “Kingdom of Death” - nơi những tù nhân Do Thái bị đẩy vào như là “điểm đến” cuối cùng của cuộc đời họ, thì Terezin là “Kingdom of Deceit”, được Đức Quốc xã dựng nên để tuyên truyền cho thế giới rằng bọn chúng chẳng làm gì sai cả, rằng những người Do Thái bước vào Terezin cũng như bước vào một xã hội thu nhỏ, một dạng cộng đồng nơi họ được đối xử bình thường. Terezin ngoài mặt là một ghetto Do Thái, do người Do Thái đứng đầu, thế nhưng những người đứng đầu này cuối cùng cũng nhận lệnh từ SS. Và sự thật những gì diễn ra đằng sau cánh cổng của Terezin, đằng sau những thước phim tuyên truyền sặc mùi giả tạo và giả dối đến mức trắng trợn mà Đức Quốc xã trưng ra cho thế giới thấy, là điều kiện sống kinh hoàng y như hàng loạt những trại tập trung khác.
Khoảng 15,000 trẻ em Do Thái người Czechslovakia đã bị tống vào trại tập trung Terezin, trong số đó chỉ có 100 em là còn sống sót sau cuộc chiến. Giữa cảnh sống khủng khiếp và bị đày đọa cả về thể chất lẫn tinh thần, các em, dưới sự hướng dẫn của cô giáo dạy vẽ Friedl Dicker-Brandeis, đã sáng tạo nên những bức tranh cùng những vần thơ phản ánh suy nghĩ, tâm lý, cảm xúc và cả ước mơ của những đứa trẻ trước cảnh ngộ khốn cùng. Và một lần nữa nhờ cuốn sách này, mình mới biết thêm tên tuổi của nữ họa sĩ người Áo Friedl Dicker-Brandeis, người đã đi học tại trường mỹ thuật-kiến trúc Bauhaus nổi tiếng của Đức, nhưng rồi dưới sự tàn bạo và khát máu của Đức Quốc xã, bà cùng chồng đã bị đưa vào Terezin.
Vẫn giữ được tình yêu đối với hội họa cùng niềm hy vọng vào sức mạnh của nghệ thuật trước nghịch cảnh và sự tàn ác của con người, bà đã hướng dẫn các trẻ em tại Terezin sáng tạo nên các tác phẩm hội họa của riêng các em, đồng thời giúp các em không bao giờ thôi đánh mất hy vọng vào ngày mai, dẫu cho thực tế của trại tập trung có khắc nghiệt đến như thế nào. Như thể lũ Đức Quốc xã chỉ có thể gông cùm thể xác của các tù nhân tại Terezin, nhưng không bao giờ có thể chạm đến tinh thần và khát vọng sống của họ. Điều đó đã được thể hiện qua những vần thơ mà những trẻ em tại Terezin, không đứa nào trên 15 tuổi, đã sáng tác và được Friedl Dicker-Brandeis thu thập lại. Chính bà sau này cũng đã qua đời tại Auschwitz như rất nhiều học sinh khác của bà, nhưng tinh thần và những gì được phản ánh trong các bức họa cùng những bài thơ là điều sẽ luôn sống mãi.
Chúng sống mãi để gợi nhắc cho cả thế giới thấy tính chất kinh hoàng của chiến tranh, của nạn đại diệt chủng Holocaust dưới đôi mắt trẻ thơ - những người lẽ ra không bao giờ phải chứng kiến cảnh đói rét, chấy rận, bệnh tật, những xác người chết ngay trong đống phân của họ; những chuyến chuyên chở tù nhân đến Auschwitz, đến với cái chết đã chờ đợi sẵn trong các phòng hơi ngạt và lò thiêu; và những cuộc tử hình ngay tại Terezin. Và đó thực sự là những gì đã được thể hiện trong các bài thơ do các em sáng tác, những bài thơ phản ánh sự khủng khiếp trong trại tập trung Terezin, sự khủng khiếp đi song hành cùng nỗi sợ chỉ khiến nhiều em mơ về cuộc sống trước đây, mái nhà trước đây, quê hương trước đây, trước khi bị đẩy vào chốn khốn cùng này, cùng những kỷ niệm đã trở thành quá vãng.
Nhưng trên tất cả, những bài thơ, và cả những tác phẩm hội họa được tạo nên từ bút chì, chì màu, sáp màu, màu nước, có khi là cả xé dán từ giấy văn phòng phẩm… cũng phản ánh cái nhìn thơ trẻ, có gì đó vô cùng trong trẻo, trong cái cách các em vẫn nhìn ra và trân trọng vẻ đẹp của vùng Terezin, nét đẹp của thiên nhiên cùng những điều nhỏ bé vượt lên trên những cảnh tượng u ám, ảm đạm, kinh hoàng bên trong cái hàng rào kẽm gai oan nghiệt. Đó như thể một “phòng tuyến” các em dựng lên trong tâm trí để có thể tiếp tục chịu đựng và đối mặt với thực tế đau lòng hiện tại. Và còn đó khát vọng sống, khát vọng tồn tại, hy vọng đầy ám ảnh muốn bứt ra khỏi những kinh hoàng này, đi cùng với đó là sự bất lực của những đứa trẻ không biết làm gì hơn là trút bỏ những nỗi niềm, cảm xúc và ước mong của mình vào trong những nét vẽ, những vần thơ.
Mình tự cảm thấy bản thân rất may mắn khi làm việc cho trường quốc tế, có cơ hội và điều kiện để tiếp cận với những cuốn sách quan trọng và có chất lượng như thế này. Sách thiết kế và in ấn đẹp lắm cơ, có màu và in trên giấy couché láng o luôn, đọc xong chỉ muốn giữ làm của riêng chứ không muốn đem trả thư viện hu hu... Và thực sự hết sức ám ảnh, những gì mà “...I never saw another butterfly…” đã gợi nên trong lòng mình. Nhiều đoạn thơ, nhiều đoạn văn trong lời dẫn nhập và phần kết sách đã khiến mình chỉ chực òa khóc. Cuối cùng thì, liệu bạn ác độc và vô nhân tính đến mức độ nào mà có thể đẩy những đứa trẻ vô tội vào trại tập trung, nhẫn tâm tước đi mạng sống của chúng như vậy cơ chứ?...