"Thu Vân nghe tiếng con nói dường như tỉnh giấc mộng, nên vùng đứng dậy rồi dắt con đi lại xe. Đi mới được vài bước, cô ta lại đứng lại, ngó mông phía tàu chạy, lấy khăn lau nước mắt rồi thở ra. Thu Cúc thấy mẹ như thế thì cũng buồn nghiến trong lòng, nên đứng nắm tay mẹ không biểu về nữa. Mẹ con đứng ngó trước mặt thì thấy dưới sông mênh mông dòng nước, trên trời mù mịt vừng mây, người đã buồn mà cảnh lại thêm buồn, nước mênh mông đưa khách biệt ly, mây mịt mù che người lưu lạc..."
Hồ Biểu Chánh (1885-1958), người làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc ấp thành nhất xã Bình xuân thị xã gò Công, tỉnh Tiền Giang).
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn.
Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 73 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp.
Tác phẩm Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự. Đề tài phần lớn là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Cách diễn đạt của ông nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê bình. Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.
Tuy có nhiều cái ngộ ngang và có mấy chi tiết hơi khiên cưỡng với dễ đoán tí nhưng mà vẫn hay và hấp dẫn. Bản in của Đinh Tị xịn và có tâm lắm nghen, ở phía sau có nguyên một danh sách giải nghĩa các từ địa phương/từ cổ trong sách luôn. Mình dân miền Tây nên hầu hết là hiểu, cơ mà các bạn miền ngoài đọc chắc bị khựng lại nhiều ấy, cái bảng ấy thiệt là tuyệt vời.
Các nhân vật trong Chút phận linh đinh hầu hết là người tốt, người lớn thì nhơn nghĩa người trẻ thì ngoan ngoãn hiểu chuyện. Tuy có lắm sóng gió nhưng trời không phụ người ăn ở thiện lành bao giờ.
Sách đọc rất thư giãn, như một bộ phim xưa, một tuồng cải lương vậy đó.
Ụaaaa chị Dân kì đúng style gái ngoan. Đi với người gian thì chị kể hết, có nhiêu nói hết, để ngta lừa cho lẹ cho drama dữ. Còn gặp người tử tế muốn giúp thì chị Dân giấu trước diếm sau, e lệ ngượng ngùng, đủ lí lẽ ngại quá ngại. Rất ụa chị. Bé Cúc con thì lanh vcl lanh quá mà tỏ vẻ con nhỏ ngây ngô cơ. Còn ngoài ra thì bình yên, nhân nghĩa, rất thêm hi vọng tin yêu vào tình người.