Tên thật của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1918 ở Nam Định. Những tác phẩm của ông mang một tình cảm nhân đạo thống thiết . Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, mồ côi cha, từ nhỏ theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm chợ nghèo.
Nguyên Hồng ham đọc sách từ nhỏ. ông thường dành tiền thuê sách để đọc và dường như đọc hết những quyển sách mình thích ở cửa hàng cho thuê sách tại Nam Định. Loại sách Nguyên Hồng thích thuở nhỏ là truyện lịch sử Trung Hoa, trong đó những nhân vật có khí phách ngang tàng, trung dũng, những hảo hán chiếm cảm tình của ông nhiều nhất.
Nguyên Hồng Tuyển Tập - Quyển sách tập hợp các tác phẩm hay nhất của nhà văn Nguyên Hồng.
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, mồ côi cha, từ nhỏ theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm chợ nghèo.
Nguyên Hồng ham đọc sách từ nhỏ. ông thường dành tiền thuê sách để đọc và dường như đọc hết những quyển sách mình thích ở cửa hàng cho thuê sách tại Nam Định. Loại sách Nguyên Hồng thích thuở nhỏ là truyện lịch sử Trung Hoa, trong đó những nhân vật có khí phách ngang tàng, trung dũng, những hảo hán chiếm cảm tình của ông nhiều nhất.
Nguyên Hồng bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn "Linh Hồn" đăng trên Tiểu thuyết thứ 7. Đến năm 1937, ông thực sự gây được tiếng vang trên văn đàn với tiểu thuyết "Bỉ Vỏ". Tiểu thuyết "Bỉ vỏ" là bức tranh xã hội sinh động về thân phận những "con người nhỏ bé dưới đáy" như Tám Bính, Năm Sài Gòn...
Nguyên Hồng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939) ở Hải Phòng. Tháng 9 năm 1939, ông bị mật thám bắt và bị đưa đi trại tập trung ở Bắc Mê (Hà Giang) năm 1940. Năm 1943, Nguyên Hồng tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật cùng với Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng... Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông là hội viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam năm 1957.
Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông là "Núi rừng Yên Thế".
Nguyên Hồng qua đời ngày 2 tháng 5 năm 1982 tại Tân Yên (Bắc Giang). Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Các tác phẩm chọn lọc
Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938 ) Bảy Hựu (truyện ngắn, 1941); Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1940); Qua những màn tối (truyện, 1942); Cuộc sống (tiểu thuyết, 1942), Quán nải (tiểu thuyết, 1943); Đàn chim non (tiểu thuyết, 1943); Hơi thở tàn (tiểu thuyết, 1943); Hai dòng sữa (truyện ngắn, 1943 ); Vực thẳm (truyện vừa, 1944 ); Miếng bánh (truyện ngắn, 1945); Ngọn lửa (truyện vừa, 1945); Địa ngục và lò lửa (truyện ngắn, 1946- 1961); Đất nước yêu dấu (ký, 1949); Đêm giải phóng (truyện vừa, 1951); Giữ thóc (truyện vừa, 1955); Giọt máu (truyện ngắn, 1956); Trời xanh (thơ, 1960) Sóng gầm (tiểu thuyết, 196l); Sức sống của ngòi bút (tạp văn, 1963); Cơn bão đã đến (tiểu thuyết, 1963); Bước đường viết văn của tôi (hồi ký, 197l); Cháu gái người mãi võ họ Hoa (truyện thiếu nhi, 1972), Thời kỳ đen tối (tiểu thuyết, 1973); Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973); Sông núi quê hương (thơ, 1973); Khi đứa con ra đời (tiểu thuyết, 1976); Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978); Thù nhà nợ nước. (tập I, trong bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế , 1981); Núi rừng Yên Thế (tiểu thuyết, tập II, 1993 ); Tuyển tập Nguyên Hồng (3 tập Tập I: 1983, Tập II: 1984, Tập III: 1985).
Tập truyện ngắn của Nguyên Hồng được viết trong giai đoạn từ 1936-1967, xuyên suốt thời kì kháng chiến chống Pháp , kháng chiến chống Mỹ , cùng sự góp mặt của đế quốc Nhật tham gia vào cuộc chiến tranh xâu xé Việt Nam. Là những giai đoạn Việt Nam trải qua thời kì đen tối nhất , con người Việt Nam bị thao túng bởi thuốc phiện, cờ bạc và đặc biệt là cái đói. Ở những trang truyện đầu tiên, nhà văn viết về những nét đẹp của người phụ nữ, là những lời khóc than, là tiếng lòng của phụ nữ , là bạo hành, là đắng cay, là nước mắt, là những khao khát về hạnh phúc,.. Sau đó tác giả đi vào miêu tả cận cảnh cái đói, cái khổ năm 1945 , khi mà hơn hai triệu con dân Việt Nam chết đói, “người sống và xác chết cùng rũ ra, ngổn ngang...”, có những người thoi thóp chờ chết, lạy xin để không bị chôn sống ,... cái đói khiến con người bỏ quên “lòng thương”, nhân dân sống trong nỗi sợ ngày đêm trước cái chết vì đói. Và đối nghịch với cảnh bất hạnh kia là những bữa tiệc đầy những của ngon vật là giữa các tiểu thư, công tử hay lãnh sự, tham mưu...Thương xót qá đồng bào ơi... Và rồi sau những khoảng thời gian khổ cực, là những thay đổi trong nhận thức của tác giả, là hi vọng vào cách mạng, là sự đổi mới , là nổ lực là niềm tin của nhân dân hay sự hân hoan vào cuộc đời mới dưới dự dẫn dắt của Cách mạng. Người người biết chữ , nhà máy được xây dựng, hoà bình lập lại. Kết thúc cuốn sách tác giả như mang đến một niềm hi vọng mới về tương lai rực rỡ. Lời văn của Nguyên Hồng vừa gần gũi , giản dị, đầy cảm xúc và lòng yêu thương , là nhà văn nhân đạo tiêu biểu trong thời kì văn học Cách mạng .
Cùng viết về xã hội việt Nam những ngày tháng trước năm 45 nhưng mỗi nhà văn lại có một cách viết riêng. Với Nguyên Hồng, cụ cũng viết về cái đói, cái khổ, cái khốn nạn của con người trước năm 45, nhưng trong chuyện của cụ thì còn có cả những hy vọng của con người về một tương lai tốt đẹp hơn trong cảnh tăm tối, từ những cháu nhỏ sống trong một gia đình nghèo khổ trồng ngô để nuôi hy vọng lấy tiền bán ngô mua áo mới cho chị em trong nhà, cho đến cả những tên phát xít Nhật cũng có hy vọng trở về quê nhà đoàn tụ vui vẻ cùng vợ con.
Những truyện viết về cái đói, cái chết năm 1945 của cụ thì thật sự buồn và bi đát. Nhưng rồi nghĩ rộng ra, đọc những truyện này thì những con người thế kỷ 21 như mình mới biết trân trọng và nhớ ơn những gì cuộc đời đã và đang ban tặng cho mình. Cuộc sống hiện tại của mình vẫn còn tốt đẹp và hạnh phúc hơn rất rất nhiều những người khác trong xã hội chứ đừng nói đến những người đồng bào khổ sở của mình năm 45.
Có những câu chuyện thật đến đáng sợ, nhất là những truyện viết về đồng bào ta trong cái đói như "Giọt máu", "Tàu đêm", "Lửa thiêu". Còn nhiều câu chuyện khác, dường như đều viết về những kiếp người khốn khổ, bần cùng, sống trong cảnh tăm tối dưới đáy xã hội.
The stories describe very truthfully, clearly depicting the scene and situation of Vietnamese people in the war. The description and expression are very realistic. However the author uses a lot of profanity and describes some very scary scenes