Quảng Trị 1972 của Nguyễn Quang Vinh là một cuốn sách hấp dẫn từ đầu chí cuối.
Tác giả không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Anh là một chiến sĩ trực tiếp chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Mở đầu cuốn sách, tác giả viết:
"Tôi không phải nhà văn và viết cuốn sách này không để làm văn.
Nó chỉ là hồi ức của một người lính, kể về một đoạn đời ngắn nhưng đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời tôi ở Mặt trận Quảng Trị, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng ác liệt. Ở đó, cái sống và cái chết tranh chấp nhau từng giây một. Ở đó, trắng đen rõ rệt. Trần trụi sự thật. Trần trụi bản năng và mọi khía cạnh con người. Tất cả được phơi bày hết, phơi bày đến tận cùng cái tốt và cái xấu; dũng cảm và hèn nhát; nhân đạo và nhẫn tâm; cao cả và thấp hèn; có lý và phi lý... Cuốn sách được viết dựa trên những hồi ức của tôi và các đồng đội của tôi, đặc biệt là hai cuốn nhật ký của chính bản thân tôi, ghi lại chân thực nhiều chi tiết".
Nguyễn Quang Vinh, sinh năm 1954 tại Hà Nội, nhập ngũ đầu năm 1972 khi còn là học sinh Trường phổ thông Công nghiệp Hai Bà Trưng, hăng hái ra trận với tâm hồn lãng mạn và tâm thế quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trong nhật ký ra trận, anh viết: "Thế là đôi chân của tôi cũng đã in dấu trong rừng Trường Sơn, in dấu lên con đường lớn của dân tộc, và lòng tôi cứ ngân lên hai câu thơ của Tố Hữu: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai".
Nhưng rồi thực tế chiến trường đã không chỉ có sự phơi phới. Anh là chiến sĩ rồi Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Trung đội 2, Ðại đội 11, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48, Trung đoàn Thép của Sư đoàn 320B tử thủ ở Thành cổ Quảng Trị và Mặt trận Cửa Việt. Ðường hành quân, chủ yếu đi bộ từ bắc vào nam đã được anh nhớ lại: "Cả lũ đi mò trong đêm. Tôi bị ngã vào vũng nước, ướt sạch, quai dép bị đứt, đành phải đi đất. Hình như bị lạc rồi, ánh hỏa châu chập chờn khắp nơi. Ðường bờ ruộng trơn như đổ mỡ, tôi nghiến răng dùng hết sức bấm ngón chân xuống đất mà vẫn ngã. Mỗi bước đi là một bước ngã. Súng ống đồ đạc quật oành oạch, quần áo bẩn thỉu như trâu vấy. Nhiều lúc mệt quá, tôi cứ chống hai tay ngồi phệt dưới bùn mà nuốt nước mắt: Cuộc đời chưa bao giờ bị cực khổ như thế này"! Cuộc sống ở chiến trường có những điều mà bây giờ lớp trẻ không thể hiểu nổi: "Sau bữa trưa chỉ có cơm với muối, chúng tôi rửa bát bằng cách sục ca nhôm vào cát rồi chùi. Ở đây thì lấy đâu ra nước mà rửa bát. Có nước ở hố bom cách đó vài chục mét, nhưng ra lấy lại sợ bị pháo kích"...
Quảng Trị năm 1972 là đất của bom pháo và chết chóc. Ðụng vào đâu cũng thấy xác chết, cả ta lẫn địch. Tiểu đoàn 3 của anh đã hai lần bị xóa sổ trong vòng ba tháng. Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, một chiến sĩ Quảng Trị đã nhớ lại như sau: "Cứ sáng dậy mở mắt ra là thấy toàn lính mới"!
Chỉ có tinh thần chiến đấu kiên cường của người chiến sĩ là không chết. Ðây là một đoạn Nguyễn Quang Vinh viết về những người lính trẻ: "Từ cửa hầm đối diện, Lâm Thành xả một tràng AK hạ gục tên địch vừa bắn Chí Thành. Nhưng lúc này bốn bề đều có địch. Hai chiến sĩ trẻ của C11, là Lâm Thành và Tường "Hải Phòng", đã dựa lưng vào nhau, chĩa súng AK ra hai phía bắn như điên. Mặc cho máu đang ròng chảy trên mặt một người và máu thấm đẫm vạt sườn người kia, hai anh vẫn bắn không ngừng, bắn mãi... Cách đó khoảng 100m, Tiểu đội trưởng Quế "Khương Trung" mang khẩu DKZ82 ra định lắp vào giá súng, nhưng không kịp. Thấy xe tăng địch đang rầm rầm xông đến, Quế hô chiến sĩ Quỳnh "Thái Bình" đem đạn ra ngay, nạp vào súng. Rồi không cần giá súng, Quế vác nòng khẩu DKZ82 lên vai, nhằm thẳng chiếc M48 đang chạy xế trước mặt bóp cò. Một quầng lửa da cam cùng tiếng nổ chói óc vang lên, chiếc xe tăng bốc cháy ngùn ngụt, không một tên địch nào sống sót"...
Mọi sự thật của chiến tranh đều được phơi bày một cách trần trụi. Cả dũng cảm và hèn nhát. Không ít cán bộ, chiến sĩ đã thoái lui, không đập bệnh cũng đảo ngũ. Nhưng trên tất cả là bản anh hùng ca của tuổi trẻ, từ bộ đội chủ lực đến giao liên, du kích. Tác giả, trong hoàn cảnh cụ thể của mình đã có những trang viết xúc động, rất đáng tự hào về tuổi trẻ Hà Nội trong những ngày kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có chính tác giả.
Văn học gần đây có khuynh hướng thiên về ký sự, mô tả sự thật như nó vốn có. Sự thật cuộc chiến đấu Quảng Trị năm 1972 hào hùng và tiêu biểu đến nỗi, không cần tới hư cấu, và bởi không cần đến hư cấu nên lay động sâu xa tới người đọc. Cuốn sách này của Nguyễn Quang Vinh không chỉ có giá trị lịch sử mà còn góp phần khẳng định một khuynh hướng mới có nhiều triển vọng trong đời sống văn học hiện nay.
Nguyễn Quang Vinh kể lại những ngày tháng của các anh ở Quảng Trị không để làm văn chương; mà là nén hương lòng tưởng niệm và tri ân những đồng đội đã hy sinh vì Tổ quốc, hy sinh một cách cao cả và đau xót:
Thế hệ chúng con đi như gió thổi
Quân phục xanh đồng sắc với chân trời
Chưa kịp yêu một người con gái
Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai…
(Trần Mạnh Hảo)
Khép lại trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hết...
"Khắp nơi dán những băng giấy ghi "Người cày có ruộng", "Cần kiệm liêm chính", "Nhân vị" (Vì dân)... nghe quen quen. Cả những khẩu hiệu đao to búa lớn hơn như kiểu "Tổ quốc trên hết", "Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm"... Có cảm tưởng hình như lý tưởng của bọn nó cũng giống của mình, chỉ có điều bọn nó thực hiện sai?..." Đoạn này mình thích vô cùng, vì thấy người lính dừng lại nghĩ suy về phía bên kia. Còn đúng-sai thì tuỳ lăng kính của mỗi bên. Những người lính trong "Quảng Trị 1972" hiện lên rặt chất miền Bắc. Có những lề thói xấu mà bác Vinh không né tránh mô tả (cả từ đồng đội mình hay từ chính mình). Kiểu bác "thó" đồ người khác thì không sao, còn ai thó đồ mình thì bực mình, nói họ xấu tính. Hay chê đế quốc tư bản truỵ lạc nhưng lại háo hức khi nghe đồng đội kể chuyện phòng the :)) Mình luôn thấy ở người Bắc có 1 sự đạo mạo nhất định và nhiều chi tiết trong sách làm mình cảm nhận được điều đó. Sách cũng mang những hy sinh, cảm thông, dũng cảm, lo lắng, so bì, tị nạnh... đời lính đến người đọc theo 1 cách dễ hiểu, dễ gần. Đọc tới cuối lại nghẹn lòng. Những người chiến đấu trong làn lửa đạn năm xưa giờ ra sao? Đi đạp xích lô không đủ sống, phải ngủ dưới gầm bàn trông quán, lăn lộn đủ nghề đắp đổi qua ngày. Tại sao cái kết với họ lúc nào cũng chỉ gói trong 2 chữ "tạm bợ". Thực lòng mong bác Vinh và tất cả những cựu binh sống mạnh khoẻ.
Thành cổ Quảng Trị là 1 địa danh mà không ít thì nhiều, dù có quan tâm đến lịch sử hay ko thì mỗi người trong chúng ta đều có lẽ đều đã nghe nói đến, 1 chiến trường cực kì khốc liệt nơi mà bao nhiêu con người, tuổi trẻ của 2 miền đất nước đã vĩnh viễn nằm lại trong 1 hoàn cảnh lịch sử éo le của dân tộc. Quảng Trị 1972 là cuốn hồi ký của tác giả - chàng thanh niên Hà Nội từ khi nhập ngũ, hành quân và chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị cho đến khi bị thương loại khỏi cuộc chiến. Những ghi chép của một người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu - như 1 nhận xét - dẫu ko có những mảng miếng, thủ pháp nghệ thuật hay cốt truyện - điều giá trị nhất chính là tính chân thực. Chúng ta có thể thấy họ cũng đều là những con người bình thường như bao người khác, có chăng là do bánh xe lịch sử đã đẩy những người thanh niên đó vào 1 cuộc chém giết tàn khốc, khi mà "12 nước nuôi 1 nước" chiến tranh... Có những người lính dũng cảm, cũng có những chỉ huy hèn nhát, hay kể cả việc tất cả đều bình đẳng nhưng vẫn có 1 số bình đẳng hơn những người khác. Ở họ vẫn ánh lên những nét đẹp đẽ và vô tư của tuổi trẻ, chúng ta ko khỏi bật cười khi cả đội đùn đẩy nhau việc khiêng hòm đạn, hay khi những chàng trai (kể cả tác giả) tráo súng và "thó" quân trang của nhau. Trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn, những người lính vẫn chiến đấu dũng cảm, dù có khi chính bản thân họ cũng không biết lý do là gì, ở vị trí của họ, đơn thuần là chấp hành mệnh lệnh, dù có hy sinh mất mát... Chiến tranh là vậy, con người hay 1 đất nước đi nữa, có lúc cũng chỉ là quân cờ trong tay người khác
Sách viết về Giai đoạn cuối của Quảng Trị 1972 - với góc nhìn của một người lính; nên có nhiều chi tiết sống động: như tỷ lệ đào ngũ lên đến 50% khi vào đến Quảng Trị, tình trạng lãng phí ở các kho...