What do you think?
Rate this book


221 pages, Paperback
First published January 1, 2018
"Chúng tôi không muốn bị giết. Chúng tôi càng không thể để cho mấy chục người cùng trốn trong hang bị giết vì tiếng khóc của con mình. Vợ tôi ôm con tôi vào lòng, áp tiếng khóc nó vào người...
Và rồi không còn ai nghe con tôi khóc nữa. Chỉ có mỗi vợ tôi còn nghe. Không nghe bằng âm thanh mà nghe bằng những ngằn ngặt trong trạng thái bị nén lại, bị giấu kín. Nhưng có lẽ giữa cơn lo sợ, vợ tôi cũng không nghe được những giãy giụa bức bối của một đứa bé hai tuổi trong cơn mất hơi thở cuối cùng. Vợ tôi vẫn ôm con như vậy cho tới khi bên ngoài bình yên.
Nghĩa là không còn tiếng khóc nữa. Không còn một động tĩnh gì hết.
Con tôi đã chết từ lúc nào rồi."
"Sau cuộc chiến, cả xã không còn đứa trẻ sơ sinh nào hết. Tôi may mắn còn sót lại đứa con bốn tuổi. Bên vồ Đá Dựng còn thê thảm hơn, để cứu 72 người, anh Trần Văn Tỏ phải nén đau thương bóp mũi đứa con trai năm tuổi, ông Khế và ông Đức cũng quặn lòng lần lượt giết ba đứa cháu nội của mình. Chỉ là chứng kiến thôi tôi còn đau như vậy. Chỉ là sợ quá ôm con vào lòng cho khỏi nghe tiếng khóc của nó, rồi ngột quá nó ra đi mà vợ tôi còn hãi hùng như vậy. Bóp mũi con, tôi nghĩ là phải bầm gan tím ruột, tôi nghĩ là mình đã chết trước khi nó chết. Chết là cái chắc. Tôi nghĩ vậy."
"Nhiều khi tôi thấy hình như cái ác là bản năng nên không lý giải được. Nhiều khi tôi lại thấy không phải, nhưng nó là cái gì thì tôi cũng chưa rõ. Khi gặp ông, nghe ông nói về cái ác của Pol Pot bằng tâm thế của người trong cuộc, tôi khẳng định mọi cái ác đều xuất phát từ sự gãy đổ của bản năng. Đầu tiên là môi trường, rồi đến sinh lý, rồi đến tâm lý. Bản năng của Pol Pot hay bản năng của những người lính Pol Pot đều bị bẻ gãy trong một điều kiện khắc nghiệt. Để rồi bản năng tật nguyền. Dị tật không được điều trị cho tới lúc nó lành lặn trong dáng dấp mới vô nhân tính. Và cái ác trở thành bản năng từ đó."
"Tôi vẫn nghĩ sao mọi người lại làm như vậy. Ví như chúng tôi đừng đi theo tụi nó.
Chúng không giết người tại xóm hay tại những hang núi. Ở những nơi đó chỉ cần giết vài người, số còn lại đã len lỏi và trốn được. Không nấp chỗ này cũng nấp chỗ kia, cơ may sống sẽ rất cao. Chúng biết nên chúng không giết tại những nơi nhiều nhà cửa cây cối mà chúng lùa dân ra đồng trống. Ở đó chỉ cần hai, ba người cầm súng là chúng có thể khống chế hàng trăm người. Chạy đường nào cũng trống và cũng bị bắn. Thật ra nếu sáng ý một chút sẽ nhận ra hai cây súng không đủ bắn hết chúng tôi. Nhưng trong đầu chúng tôi, những họng súng đó có thể tuôn đạn không bao giờ hết. Những người chưa từng cầm súng như chúng tôi nghĩ như vậy.
Mà cho dù súng có thể nổ hàng ngàn viên đạn thì cũng có thể ùn lên một lượt chạy tản lạc hoặc sáp lá cà, ai sống thì sống, ai chết thì chết chắc không mấy người bị giết.
Nhưng trong đầu chúng tôi hoàn toàn không có ý muốn giết chúng. Những họng súng làm chúng tôi cảm giác mình đã chết. Chỉ còn mong chúng nó không giết mình.
Mà cũng do chúng tôi không nghĩ mình sẽ chết kiểu vậy. Vì phía dân mình đông lắm. Đông khủng khiếp. Đông tới mức mình không cảm thấy sợ dẫu trước mặt là thú dữ. Chúng tôi cảm thấy như mình có thể trốn được giữa đám đông. Vài tên lính không đủ sức làm chúng tôi sợ hãi. Chúng tôi bảo nhau đừng vội vàng, đừng làm liều mà cứ bình tâm đứng đó chờ đợi. Từng người một đứng đó chờ tới lượt mình. Tôi nhiều khi nhớ lại sao giống cảnh người ta cắt đầu cá. Từng con cá lội nhởn nhơ chờ tới lượt mình. Nhưng những con cá không biết gì hết, còn tôi thì biết sắp tới lượt mình bị đập đầu."