Nhập môn triết học Đông phương by Thu Giang
Giới thiệu nội dung
Nhập Môn Triết Học Đông Phương của Thu Giang Nguyễn Duy Cần không phải là một cuốn sách giáo khoa về triết học nhưng lại mang đến cho độc giả những kiến thức nền tảng và đặc sắc nhất về tư tưởng triết lý của người Á Đông với một góc nhìn cởi mở và phóng khoáng.
Nguyễn Duy Cần (1907 - 1998) có hiệu là Thu Giang, là một trong những học giá, nhà biên kháo kỳ cựu bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20. Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tầng lớp thanh niên trí thức.
Ông làm nghề y, nghề giáo, viết sách, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang,
Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử... Ông từng là giáo sư của trường Đại học Vạn Hạnh và là trưởng khoa Triết Đông của trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM). Sinh thời Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều sách, chủ yếu là sách biên khảo, nghệ thuật sống (lúc bấy giờ gọi là sách "học làm người") và Đạo học phương Đông. Những tác phẩm của ông được viết không nhăm mục đích "sổng với câu chữ", mà đa phần do sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống. Ông cảm thấy những đê tài mình nên viết là những điều mà xã hội đang còn thiếu thốn và nhiều tầng lớp dân sinh đang mong đợi. Điều đáng tiếc là có nhiều tác phẩm của ông chưa được công bố, bị thất lạc hoặc chưa được hoàn thành. Mặc dù vậy, những tác phẩm đã xuất bản luôn được các thế hệ bạn đọc đón nhận và thường được tái bản nhiều lần.
Tổng quan
Hướng đến đối tượng tầng lớp thanh niên trí thức, những người chỉ vừa chập chững bước vào "thánh đường" triết học, quyển sách Nhập Môn Triết Học Đông Phương dù viết về nền tảng tư tưởng triết lý thâm sâu của người Á Đông nhưng lại được học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần trình bày bằng chất văn bình dị, mạch lạc và sáng rõ.
Không chỉ bàn luận đến những nội dung đặc sắc và cốt lõi của triết học phương Đông, tác phẩm còn dành thời gian đề cập đến những yếu tố căn bản để xây dựng nên tinh thần hoài nghi triết học. Vượt ra khỏi phạm vi triết học, những yếu tố này còn là phương thức rèn luyện khả năng tư duy rất hiệu quả, nhờ đó mà người đọc có thể ứng dụng vào công việc và đời sống.
Với hình thức trình bày cô đọng, nội dung truyền tải sâu sắc, quyển sách Nhập Môn Triết Học Đông Phương của học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần thực sự là một lựa chọn phù hợp cho những ai mới bắt đầu tìm hiểu về tư tưởng triết lý phương Đông và sự ảnh hưởng của chúng đến tư duy nhận thức của con người châu Á.
Nội dung thứ nhất: Tư tưởng Tây phương thiên về triết học, tư tưởng Đông phương thiên về Đạo học.
Ngay từ chương đầu, quyển sách đã mang đến một nhận định rất "sốc": "Đông phương không có triết học mà chỉ có Đạo học". Tác giả cho rằng, việc dùng đến danh từ "triết học Đông phương" là một sự miễn cưỡng bởi Đông phương không có triết học, theo nghĩa thông thường của nó. Nhận định này, ngay lập tức có thể khiến nhiều độc giả phải khó chịu và hoang mang bởi đi ngược lại với những gì họ biết về tư tưởng Đông phương. Vậy điều gì đã khiến Thu Giang Nguyễn Duy Cần khẳng định như thế?
Căn cứ vào ngôn ngữ, chữ "triết" là danh từ không có ở Đông phương ngày xưa, mà chỉ vừa du nhập vào các hệ thống tư tưởng Đông phương kể từ khi người Đông phương dịch chữ "philosophia" của người Hy Lạp.
Trong Hán tự, "triết" nguyên tự là "chiết", với bộ "thủ" là bàn tay và chữ "cân" là cái búa, có nghĩa là chặt ra, chẻ ra. Chữ là hình vẽ một vòng tròn, tượng trưng cho sự vật nào đó. Vì vậy, "triết" nghĩa là phân chia một sự vật ra từng yếu tố để tìm lẽ nhiệm mầu. Chữ "triết" diễn đạt được ý niệm thiên về sự phân tích của triết học Tây phương hiện đại.
Trong khi đó, ý niệm nền tảng của tư tưởng Đông phương lại không thiên về sự phân tích, mà là "nhất nguyên luận".'. Theo tư tưởng nhất nguyên của Đông phương, sự vật nào cũng có 2 mặt trái - phải, âm - dương, tĩnh - động, sáng - tối... Cả 2 mặt này đều không được tách rời nhau bởi chúng chính là thành tố để cấu tạo nên sự vật, hiện tượng của đời sống. Vì vậy, tư tưởng Đông phương không thể nằm trong hệ thống triết học như người đời vẫn tưởng, mà phải dùng đến "Đạo học" thì đúng hơn.
Trong cấu tạo chữ viết, "đạo" gồm 2 phần là bộ "xước" (nghĩa là đi, tượng trưng cho nguyên lý động) và chữ "thủ" (nghĩa là đầu, tượng trưng cho nguyên lý tĩnh). Ở một phương diện nào đó, bộ "xước" cũng tượng trưng cho sự vuông của bàn chân, còn chữ "thủ" thì tượng trưng cho sự tròn của cái đầu. Trời tròn, đất vuông, cũng là hiện thân của nguyên lý âm - dương. Theo ý nghĩa chiết tự đó, người Đông phương cho rằng Đạo có thể bao hàm mọi cặp mâu thuẫn trên đời.
Nói đơn giản về sự khác biệt giữa tư tưởng Tây phương và Đông phương thì, tư tưởng Tây phương thiên về triết học hơn, tư tưởng Đông phương lại thiên về Đạo học hơn.
Nội dung thứ 2: Sự linh hoạt biến hóá chi phối tư duy, tính cách và lối biểu đạt của người Đông phương.
Thu Giang Nguyễn Duy Cần cho rằng, quan niệm căn bản của "nhất nguyên lưỡng cực động" của Đông phương là chấp nhận cái nguyên lý tối cao: "Hai mà một, một mà hai". Đây là một "tư tưởng động", , luôn biến đổi từ đối cực này sang đối cực kia, nghĩa là "bất khả Đạo", "bất khả danh" (không thể nói ra được, không thể dùng một danh từ nào để chỉ định được). Nói cách khác, tư tưởng này không thể định nghĩa rõ ràng một chiều được.
Phần đông học giả Tây phương có một quan niệm mơ hồ về bản chất của nền tư tưởng Đông phương cổ điển. Đó là vì bản chất "động", vô cùng uyển chuyển và linh hoạt của các hệ thống tư tưởng Đông phương vẫn còn tương đối xa lạ với óc nhị nguyên và óc khoa học thiên về triết lý của họ. Trong lúc người Tây phương có khuynh hướng suy tư và thể hiện tư tưởng của mình một cách hệ thống, rành mạch và minh bạch thì người Đông phương lại ưa chuộng cách thể hiện mập mờ, hư hư thực thực, thiếu sự rõ ràng, dứt khoát của những chân lý một chiêu.
Ví như tư tưởng của Phật giáo đại thừa, ta làm sao hiểu theo nghĩa dứt khoát, rõ ràng với những câu mang đầy vẻ huyền ảo như:
"Phi hữu phi không, diệc hữu diệc không"
"sắc bất dị không, không bất dị sắc".
...
Ngay cả học thuyết Nho giáo, vốn được xem là gần gũi và dễ hiểu đối với người Tây phương, cũng đôi lúc khiến độc giả mông lung bởi tư tưởng biến hóa, linh hoạt. Ví như trong giáo dục, đối với Khổng Tử, phương pháp giáo dục không bao giờ là cố định, duy nhất mà sẽ luôn biến hóa theo tính cách và tư chất của người học. Nghĩa là tùy trình độ của mỗi đệ tử mà người thầy sẽ cá nhân hóa phương pháp, lộ trình và nội dung học vấn để người học tiếp thu hiệu quả nhất có thể.
Như vậy, có thể thấy, nền tảng tư tưởng của Đông phương chính là tư tưởng "nhất nguyên lưỡng cực động", luôn luôn lưu chuyển, biến hóa đến mức không sao nắm bắt được. Đây cũng chính là tư tưởng cội rễ chi phối toàn bộ tư duy, tính cách và lối biểu đạt của người Đông phương chúng ta từ xưa cho đến nay.
Nội dung thứ 3: Tượng trưng và khêu gợi, lôi lập ngôn của người Đông phương.
Tư tưởng Đông phương bao giờ cũng hàm chứa sự mâu thuẫn, cho nên người Đông phương cũng khó mà biểu đạt lời nói câu văn rõ ràng, dứt khoát. Lối lập ngôn của người Đông phương vì thế sẽ thường dùng đến phương pháp tượng trưng và khêu gợi để biểu đạt ý nghĩ.
Đối với giới trí thức, sách vở kinh điển của Đông phương không lý luận chặt chẽ hay minh chứng dài dòng. Trái lại, người Đông phương sẽ chuộng dùng lối viết tượng trưng dáng hình chứ không tập trung miêu tả ý nghĩ. Sở dĩ như vậy là vì họ tin "đồng thanh" thì mới "tương ứng", "đồng khi" thì mới "tương cầu". Sách vở Đông phương chỉ khêu gợi, và từ đó mỗi người học sẽ vận dụng công phu suy nghĩ mà lắng nghe tiếng dội sâu thẳm ở lòng mình.
Ở một ý nghĩ khác, sở dĩ lối lập ngôn tượng trưng, khêu gợi được ưa chuộng ở Đông phương là vì dụng ý con người có thể truy tìm cái học ở bề sâu của ngôn từ. Sự mông lung, tối tăm của câu văn có thể kích thích trí tò mò, hy vọng người đọc tìm đến ẩn ý sâu xa của người viết và nhân đó giải phóng tiềm lực của chính mình.
Điều tối kỵ nhất của người Đông phương là sự hiểu biết giả tạo bởi hành động truyền bá tư tưởng. Huống chi cái Đạo ở đời dung chứa các mối quan hệ mâu thuẫn, siêu thời gian và không gian, có thể cảm mà không thể nói bằng văn từ hạn định. Điều này đã được Phật giáo nhắc đến trong câu chuyện "ngón tay chỉ trăng" của Đức Phật. Chuyện kể rằng, ngày kia, Đức Phật chỉ tay lên trăng, bảo các đệ tử: "Kia là mặt trăng, cứ theo ngón tay ta mà thấy. Nhưng nên nhớ, ngón tay ta không phải là mặt trăng. Những lời giảng của ta hôm nay cũng vậy. Nghe theo lời ta giảng mà hiểu chân lý nhưng nên nhớ lời giảng của ta không phải là chân lý".
Phải biết cái dụng tâm khêu gợi đó để khi đọc sách Đông phương thì không nhận lầm "ngón tay chỉ trăng" là mặt trăng, còn khi tiếp xúc với người Đông phương thì có thể cảm nhận chân tình, thịnh ý của họ, vốn đã được che lấp sau những cử chỉ thâm trầm, kín đáo, riêng tư.
Nếu bạn chưa bao giờ hay chỉ mới tìm hiểu sơ lược về triết học Đông phương thì có lẽ quyển sách này sẽ mang đến cho bạn những khám phá thú vị nhất về tư tưởng Đông phương, thậm chí sẽ khiến bạn hoài nghi không ít vì có thể đi ngược lại với những gì bạn đã biết.
Bạn có thể tin hoặc không tin vào những điều mà sách trình bày, bởi vốn dĩ đây chỉ là một cuộc đối thoại thú vị về tư tưởng Đông phương cổ điển giữa bạn và tác giả, hoàn toàn không phải là chân lý muôn đời. Mà ngay cả đó có là chân lý đi nữa thì, như Thu Giang Nguyễn Duy Cần chia sẻ, chân lý đó cũng không thể chứng minh vì nó là thị kiến của mỗi người.
6.3.2025
N