Tôn giáo là gì? mục đích chính của tôn giáo là trả lời 2 câu hỏi. Có ai đó ở ngoài kia không? và sau khi chết sẽ thế nào? Tôn giáo thường hình thành bằng việc một ai đó nhận được mặc khải của Thượng Đế, Chúa Trời hay Đấng Tối Cao, gọi cách nào thì cũng đều để chỉ cùng một thứ. Những mặc khải đó hé lộ về đáp án của 2 câu hỏi kia và những người nhận mặc khải được gọi là nhà tiên tri.
Thuở ban đầu, tự nhiên nhất là việc con người thờ phụng và sùng bái những thế lực tự nhiên. Mặt trời, mưa, gió, mùa màng... tất cả đều do có những vị thần đứng sau. Khắp nơi trên thế giới gần như đều chung 1 câu chuyện và đều có nhiều vị thần của mình. Cuộc cách mạng xảy đến khi có nhà tiên tri đầu tiên Abraham của dân Do Thái cổ, tuyên bố chỉ có 1 Thiên Chúa duy nhất tất cả những vị thần khác đều là ngụy thần. Trải qua bao biến cố, từ suối nguồn nhỏ này đã hình thành 2 tôn giáo lớn nhất hiện tại là Kito giáo và Hồi giáo (Islam).
Năm 1800 TCN, bắt đầu từ dân Do Thái cổ, 1 người tên Abraham được Thiên Chúa mặc khải, rằng chẳng có vị thần nào khác cả, chỉ có một Thiên Chúa duy nhất mà thôi, tất cả chỉ là ngụy thần. Abraham đả kích việc thờ cúng tượng thờ những vị thần giả mạo kia, thách thức với tục lệ thờ cúng đa thần. Cái mới xuất hiện đe dọa những thế lực cũ, những ngành kinh doanh tranh tượng đang phát đạt với việc buôn bán đồ thờ cúng. Abraham phải lưu lạc, mang theo gia quyến đi du mục khắp nơi. Những người được Thiên Chúa mặc khải như Abraham được gọi là những nhà tiên tri. Trên đường lưu lạc ông 1 lần nữa nhận được thông điệp từ Thiên Chúa - hãy hiến tế con trai của người thay vì những con cừu. Abraham mang theo con trai Issac lên núi, dao sắc trong tay sẵn sàng kề cổ người con tội nghiệp của mình để hiến tế, thì thông điệp lại vang lên - ta tha cho con trai ngươi, việc ngươi sẵn lòng giết con theo yêu cầu của ta đã chứng tỏ lòng trung thành của người với ta mạnh hơn sự yêu mến quyến thuộc của bản tính con người. Abraham chắc chắn là một kẻ điên theo quan điểm hiện tại khi sẵn sàng giết con của mình vì một lời nói vang lên trong đầu, hẳn là kẻ thần kinh. Không hiểu Issac có cảm giác gì khi nằm chờ chết dưới lưỡi dao của cha mình?
Ở phương Đông thì câu chuyện có biến thể khác, những nhà tiên tri vô danh đầu tiên của Hindu giáo ở Ấn Độ kể về 1 thứ gọi là đại ngã, là thứ duy nhất - Brahman. Brahman ủy thác cho thần sáng tạo Brahma tạo ra nhân loại với 4 đẳng cấp khác nhau từ cao quý đến ti tiện. Mà những người ở lớp ti tiện nhất thì chỉ cần cái bóng của chúng phủ lên vật gì thì vật đó cũng thành ô uế. Sau đó tới phiên thần bảo hộ Vishnu ấp ủ và nuôi nấng thế gian. Rồi cuối cùng thần Shiva sẽ hủy diệt mọi thứ mà Brahman tạo ra, Vishnu giữ gìn trước đó, rồi đưa tất cả vào lãng quên cho tới khi vị Brahman gọi thần sáng tạo Brahma bắt đầu vòng quay mới. Hindu giáo ở góc độ nào đó vừa là đa thần giáo lại vừa là độc thần giáo. Vòng quay vĩ đại của bánh xe thời gian cứ quay suốt, con người cũng trải qua luân hồi hết kiếp này tới kiếp khác trong vòng quay đó, hàng triệu kiếp mệt mỏi rã rời. Kiếp sau như thế nào do những hành động từ kiếp trước, do nghiệp gây lên. Có cách nào thoát khỏi vòng quay này không?
Năm 580 TCN, thái tử Tất Đạt Đa ra đời, ngài là con của vua Tịnh Phạn, người trị vì tộc Thích Ca. Ngài tự hỏi điều gì đã trói buộc linh hồn con người vào vòng quay đó, chính ngài dù là thái tử cũng đang trên hành trình đi qua nhiều kiếp đó. Rồi 1 chuỗi sự kiện gọi là Tứ cảnh, khi ngài chứng kiến khổ đau do bệnh tật, già nua, cái chết gây ra. Ngài nghe nhạc chẳng còn thấy vui, ăn tiệc chẳng còn thấy ngon. Ngài suy nghĩ mãi về những khổ đau đó và đột nhiên nhận ra nguyên nhân của tất cả khổ đau là do ham muốn. Ngài quyết tìm ra con đường vượt thoát khỏi ham muốn đau khổ rồi sẽ hướng dẫn những người khác rời khỏi vòng quay luân hồi. 29 tuổi bỏ lại vợ con và tước vị, ngài ra đi, học theo các vị hiền triết, chế ngự những ham muốn bằng các nhiều phương cách. 6 năm ngài đã cảm thấy chế ngự được những thôi thúc bồn chồn do ham muốn gây ra nhưng ngài cảm thấy đó vẫn chưa phải đích cuối cùng. Ngài lại ra đi, gặp những nhà tu khổ hạnh, được chỉ rằng phải từ bỏ hết xác thân này thì linh hồn mới thanh khiết vượt thoát khỏi luân hồi. Ngài nhịn đói gần chết và từ bỏ con đường khổ hạnh đó, ngài nghĩ rằng nếu đó là con đường đúng đắn thì ngài đã có thể hoàn toàn giác ngộ và vượt thoát, vì ngài đã nhịn tới mức gần chết rồi. Lê lết tới rìa một ngôi làng, ngài ngồi dưới gốc cây bồ đề và tự quyết rằng sẽ thiền định ở đây, không bao giờ đứng dậy nếu chưa tìm được đường giải thoát. Quá trình thiền định đó ngài nhận ra rằng, chính suy nghĩ muốn chấm dứt mọi ham muốn cũng là vật cản trên con đường giác ngộ. Rồi ngài thấy mình đã xả bỏ được mọi ham muốn và chứng ngộ rằng không còn đầu thai nữa, ngài đã thoát khỏi vòng quay luân hồi. Ngài tìm gặp những tì kheo khi xưa đã chỉ bảo cho ngài, bài giảng đầu tiên của ngài với họ sau này được chép thành kinh Chuyển pháp luân. Để đạt giác ngộ cần đi trên con đường trung đạo, không tham đắm vào dục lạc, cũng không ép xác khổ hạnh. Với những hướng dẫn trong Tứ diệu đế và thực hành Bát chánh đạo - chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Những người thực hành sẽ vững vàng đi trên con đường giác ngộ và thoát khỏi luân hồi. Đạo Phật vì thế là phép thực hành chứ không phải 1 tín điều. Là điều để làm hơn là để tin. Điểm mấu chốt để thực hành hiệu quả là thông qua thiền định kiểm soát tâm thức không ngừng ham muốn. Bằng việc ngồi yên và dõi theo hơi thở hay thiền định về một từ hay một bông hoa nào đó, các thiền sinh sẽ trải qua các tầng tâm thức khác nhau cho đến khi đạt trạng thái tĩnh lặng có thể giảm bớt ham muốn. Suốt 40 năm sau đó ngài đi du hành khắp nơi và củng cố tăng đoàn. Ngài nhập tịch khi 80 tuổi, giáo lý của ngài vẫn còn lại mãi nhân gian và dần trở thành 1 trong những tôn giáo phổ biến nhất thế giới.
Ở Trung Quốc các tư tưởng bắt đầu nở rộ thời chiến quốc. Cũng vào thế kỉ 5-6 TCN, 2 nhà tư tưởng ảnh hưởng lớn nhất lên toàn cõi Trung Hoa và các nước lân cận hiện tại là Lão Tử và Khổng Tử ra đời. Khổng Tử được thờ ở rất nhiều nơi, nhưng 2 người này không phải là những người khai sinh ra một tôn giáo nào vì họ không tập trung vào 2 câu hỏi chính của tôn giáo là có ai đó ở ngoài thế giới này không và sau khi chết sẽ ra sao. Họ tập trung và cuộc sống của chính khoảnh khắc hiện tại. Để giữ mọi thứ được cân bằng, Khổng Tử khuyên mọi người thực hành nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Không làm cho những người khác điều gì mà bản thân mình không thích, ông khuyên những nhà cai trị dùng đức trị thay cho pháp trị. Ông kiễn nhẫn đi khắp nơi, mang theo những học trò của mình, có điều thời ông còn sống không 1 nhà cai trị nào áp dụng những học thuyết ông nói. Các học trò chép lại những lời dạy của ông trong Tứ thư. Khổng Tử tôn kính tự nhiên và các lễ nghi, không giống như học thuyết tiêu dao, vô vi của Lão Tử. Khổng Tử thì lễ giáo nghiêm cẩn, các hiền triết Hindu thì xem đời như 1 ảo ảnh, cần phải vượt thoát khỏi ảo mộng, ra khỏi luân hồi. Lão Tử thì nhận ra sự thống nhất và tương thuộc trong thế giới, cách vạn vật vận hành cùng nhau, ngay tại cuộc sống này. Chỉ có con người đã không còn hòa đồng và thống nhất với vũ trụ này. Sự bình an sẽ đến khi khôi phục được sự hòa hợp với tự nhiên và thuận theo đạo của nó. Chỉ có điều cách diễn đạt của ông rất khó hiểu. Trong cuốn sách Đạo Đức Kinh của mình ông nói về Đạo, ông khuyến khích mọi người trở về hòa hợp với Đạo nhưng ông cũng nói rằng Đạo không thể nắm bắt, còn những kẻ nói là biết về Đạo, nắm bắt được Đạo thực ra chẳng hiểu gì về nó. Mấu chốt nằm ở sự quân bình và cân bình. Ông thấy mọi thứ trong tự nhiên đều có 2 phần âm và dương. Ông biểu thị bằng 1 vòng tròn với 2 nửa đen trắng, trong nửa đen lại có chấm trắng và trong phần trắng lại có chấm đen. Mọi thứ đều có phần đối lập để bổ sung cho chính nó. Khổng Tử dạy chúng ta phải hình dung mình trong địa vị của người khác. Lão Tử thì có cách nói vui vẻ hơn. Ông bảo mọi người chỉ cần sống thuận theo tự nhiên, như 1 cái cây, 1 con chim... lối sống đó gọi là vô vi. Anh không thích các phép tắc và quy định mà những nhà cai trị gò ép con người trong khuôn mẫu đó. Về sau học thuyết của ông được nhiều kẻ theo phái thần tiên áp dùng và tôn ông làm Thái Thượng Lão Quân, rời rất xa tinh thần nguyên gốc của ông. Sau này Phật giáo theo Con đường tơ lụa truyền bá vào Trung Hoa, kết hợp với 2 tư tưởng của Khổng và Lão hình thành nên trường phái Thiền Tông, ảnh hưởng rất nhiều tới Nhật, Hàn và Việt Nam.
Còn những người Do Thái vẫn lang thang. Abraham rồi tới cháu trai là Jacob nhận được mặc khải và đổi tên thành Israel có nghĩa là Thiên Chúa trị vì. Họ tới gần Ai Cập, nhưng người Ai Cập không thích vị thần kì dị của họ. Người Do Thái sống khổ cực bên rìa, vua Ai Cập thậm chí còn bắt tất cả bé trai sơ sinh của người Do Thái đem giết để chủng tộc này không thể phát triển hơn được. Moses là bé trai may mắn thoát khỏi cái chết, khi được mẹ đem thả trôi trên sông Nile, và được con gái của vua Ai Cập nhận làm con nuôi. Nhưng khi khôn lớn, Moses lại nhận được mặc khải ở bên cạnh một bụi cây nói ông phải dẫn dắt con dân Do Thái về miền đất hứa. Ông thuyết phục được người Do Thái đi theo mình sâu vào sa mạc để trốn khỏi những binh lính Ai Cập. Ở đây ông nhận được mặc khải của Thiên Chúa và chép lại 10 điều răn. Người Do Thái trở lại vùng đất Palestine và đánh đuổi những người bản địa, xây dựng lên ngôi đền thờ phụng Thiên Chúa ở Jerusalem...
Đây chỉ là tóm lược 1 phần rất nhỏ của Lược sử tôn giáo, thực sự muốn gõ thêm nhưng còn quá nhiều thứ cần phải đưa vào mới đầy đủ được nên sẽ dừng ở đây, coi như 1 phần giới thiệu nhỏ cho những ai muốn tìm đọc cuốn sách này. Sách biên soạn rất công phu, chi tiết, và đánh giá vô cùng sắc sảo. Xuyên suốt hành trình phát triển các tôn giáo được tác giả lược lại cứ như 1 bộ phim bom tấn vậy. Nó là 1 cuốn sách khảo cứu, đồng thời lại hấp dẫn như 1 cuốn tiểu thuyết hư cấu. Ai cũng có thể đọc được và thu được từ nó ít nhiều những tư tưởng và kiến giải về ý nghĩa của cuộc đời, mục đích của sự tồn tại thông qua góc nhìn của các tôn giáo. Tôn giáo có lúc là liều thuốc an thần trong cơn khốn cùng, nhưng nó cũng là công cụ đầy bạo lực khi những kẻ theo đuổi quyền lực sử dụng cho mục đích cá nhân. Tôn giáo rất dễ gây chia rẽ và kích động. Từ 1 nguồn nhỏ trong mỗi tôn giáo đều hình thành không biết bao nhiêu hệ phái khác nhau chỉ vì cách diễn gi���i kinh sách và giáo điều khác nhau, thậm chí là xung đột khi lựa chọn người kế thừa. Ở góc độ này tôn giáo thực sự đã bị thế tục hóa. Cho sách 5* và muốn giới thiệu cho thật nhiều người đọc.