Mình đã từng nghĩ những bạn nữ nhuộm tóc, xăm mình là những người không đàng hoàng, những ai đọc ngôn tình thì chỉ toàn ngồi mơ mộng mê muội và những người cuồng K-pop (nhạc Hàn Quốc) thì toàn là những kẻ rất điên khùng, lố bịch.
Mình cũng phải thừa nhận có một khoảng thời gian mình ngưỡng mộ "phương Tây" (nhất là Mỹ) một cách cuồng dại, mặc cảm người Việt Nam thật thụ động, xấu xí và luôn nghĩ về Hồi giáo như một tôn giáo man rợ.
A. HIỂU VỀ CĂN TÍNH
1. Hóa ra, những suy nghĩ này của mình cũng có tên gọi, gọi là TƯ DUY PHÂN CHIA ĐƠN THỂ VÀ PHỔ QUÁT (hay quan niệm quy giản hóa)
Cụ thể hơn, theo tác giả Amartya Sen, lối tư duy này xem con người như những thành viên của một nhóm duy nhất có một tính chất (căn tính) nhất định, gán nó lên cho các thành viên và bỏ qua căn tính riêng của từng người. Có vẻ như chúng ta quên mất rằng một người có thể thuộc về nhiều nhóm "một con người có thể vừa là người Mỹ có tổ tiên từ châu Phi, vừa là một người Thiên chúa giáo, một người theo chủ nghĩa tự do, một phụ nữ, một người ăn chay,..." và chính chúng ta đã bất chấp, lờ đi điều này.
2. Tác giả Amartya Sen tiếp tục lập luận để chỉ ra NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỰ LỰA CHỌN CĂN TÍNH, điển hình bằng ví dụ về nhân vật Gora trong tiểu thuyết cùng tên của Tagore (người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel Văn chương). Gora luôn đứng ra bảo vệ những phong tục và truyền thống Hindu nhưng đến cuối truyện lại phát hiện chính những người Ấn Độ lại giết cha mẹ ruột của mình.
Câu chuyện này đặt nhân vật vào một tình thế éo le, từ đó đặt vấn đề: Liệu chúng ta có thật sự tự do lựa chọn căn tính ưu tiên trong số đa nguyên căn tính, hay lựa chọn của chúng ta bị hạn chế trong mắt kẻ khác (lệ thuộc cộng đồng)? Bất chợt, mình nhớ đến chuyến đi Ninh Thuận vừa rồi để tìm hiểu văn hóa- lịch sử Chăm, nếu một cá nhân là người Chăm (theo chế độ mẫu hệ) và cả gia đình theo đạo Hồi (theo chế độ phụ hệ) thì việc cá nhân đó ưu tiên lựa chọn căn tính Chăm, có bị cộng đồng Hồi giáo lên án vì không tuân theo căn tính Hồi giáo không? May mắn là tác giả đã bổ sung thêm rằng, tất nhiên sự lựa chọn phải xem xét trong bối cảnh cụ thể và phạm vi hạn chế cụ thể, dù ta có đang tự nhìn nhận căn tính của mình hay như khi người khác nhìn vào căn tính của ta.
B. CĂN TÍNH VÀ BẠO LỰC
Đây mới là phần trọng tâm của quyển sách. Tác giả Amartya Sen dựa trên những lập luận về căn tính nói chung như ở phần A làm đòn bẩy để phê phán sự phân chia thế giới theo các nền văn minh (ở đây tác giả chỉ đích danh Samuel P. Huntington, tác giả quyển sách "Sự xung đột giữa các nền văn minh", được xuất bản trước đó không lâu).
Tác giả cho rằng, việc phân chia con người vào các nền văn minh (văn minh phương Tây, văn minh Hồi giáo, văn minh Ấn giáo,...) là một sự "giam hãm", dán nhãn, bởi đó là một góc nhìn đơn thể, một sự ngộ nhận, quy kết con người vào một nhóm và lờ đi sự đa nguyên căn tính của mỗi người (mỗi người có thể thuộc nhiều nhóm khác nhau và có nhiều căn tính khác nhau). Ông chỉ ra rằng Huntington đã đặt vấn đề không đúng, chưa cần bàn đến chúng ("các nền văn minh") có xung đột hay không.
Ngoài ra, cũng dựa theo những lập luận về những hiểu lầm căn tính như trên, tác giả cũng lý giải những vấn đề bạo lực liên quan đến Hồi giáo. Cụ thể:
(1) Việc sinh ra là người Hồi giáo không có nghĩa là không có căn tính nào khác (ngoài căn tính Hồi giáo), bởi vậy tác giả cho rằng nên hiểu người Hồi giáo một cách cởi mở hơn, đặt họ trong mối tương quan gồm nhiều mối hệ thuộc khác nữa, không thể nhầm lẫn giữa căn tính Hồi giáo của họ và căn tính bạo lực khủng bố mà một vài tín đồ Hồi giáo đã lựa chọn mặc định.
(2) Cũng vì sự lựa chọn căn tính phải được đặt trong bối cảnh cụ thể nên cần nhìn nhận người Hồi giáo thuần túy chỉ trong phạm vi tín ngưỡng Hồi giáo của họ, cần phải tỉnh táo trước sự cố tình lẫn lộn giữa tôn giáo- tín ngưỡng và những phương kế chính trị.
C. CĂN TÍNH VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC
Ở chương 5 "Phương Tây và không phương Tây", tác giả chỉ ra rằng con người ta đã mặc định rằng sự tự do, nhân quyền hay việc tranh biện công khai là những thứ "của phương Tây", "thuộc phương Tây", nên phong trào phản kháng lại "phương Tây hóa" đã đồng thời khuyến khích người ta thù địch với sự tự do và nhân quyền, bởi... chúng là những "căn tính" của phương Tây (sự tự nhận thức mang tính phản ứng).
Lý giải điều này, tác giả đưa ra khái niệm "biện chứng của tâm thế bị thực dân hóa". Nghĩa là, bởi chính do sự thôn tính, bóc lột của chủ nghĩa thực dân trong quá khứ, nên sự bất mãn hậu thực dân này chỉ như một cách phản kháng lại những thương tổn, nỗi ô nhục và mất phẩm giá mà người dân ở các nước thuộc địa phải chịu đựng (ngoài việc bị bóc lột, họ còn bị buôn bán như nô lệ và vận chuyển như súc vật).
Mặc dù cho rằng cách nhìn nhận này trong một số trường hợp khá "thích đáng", Amartya Sen vẫn nói thêm rằng "Nhưng nếu sống mà cứ để cho nỗi oán hờn đối với sự thấp hèn do kẻ khác áp đặt lên chúng ta trong quá khứ trở thành một thứ chiến lĩnh các ưu tiên của chúng ta ngày nay thì thật là bất công với chính chúng ta". Đọc đến đoạn này, mình chỉ ước đồng bào mình- những người đã mang theo nỗi đau ly biệt 1975, dù đã trở về quê mẹ, hay vẫn đang còn ở đâu đó trên khắp thế giới, hãy nghĩ đến căn tính dân tộc, căn tính nguồn cội lớn lao hơn, bỏ qua những căn tính mà những người làm chính trị đã tạo dựng, để mà yêu thương nhau, hỗ trợ nhau, dù biết rằng có những nỗi đau thế hệ không thể chỉ nói quên là quên :)
D. CĂN TÍNH VÀ SỰ GIAM CẦM VĂN HÓA
Không phủ nhận sự đóng góp của văn hóa nhưng tác giả kịch liệt lên án việc gắn chặt văn hóa vào việc lý giải số mệnh của một xã hội hay của một quốc gia.
Cụ thể, ông đưa ra hàng loạt ví dụ như không thể đổ cho sự nghèo đói ở Ireland là vì họ có truyền thông ăn khoai tây, không thể cho rằng nạn đói năm 1943 tại Ấn Độ là do người dân "đẻ như thỏ" và càng không thể khẳng định nguyên nhân khó khăn để cai quản Ấn Độ là vì người Ấn "là dân tộc thô lỗ nhất thế giới". Ý tác giả (theo như mình hiểu) thì không thể giam giữ văn hóa trong những cái hộp quá cứng đơ và có một cái nhìn quá hạn hẹp với các thuộc tính văn hóa, cho rằng chúng tách biệt và dựa trên đó để suy ra các hệ quả.
Cùng cách lập luận này, Amartya Sen tiếp tục phản biện Samuel P. Huntington và nêu quan điểm rằng không thể gán cho văn hóa là nguyên nhân lý giải tại sao Hàn Quốc và Ghana cùng một bước khởi đầu nhưng sự phát triển hiện nay đã quá cách xa nhau. Từ đó tác giả cũng cho rằng sự ảo giác về số mệnh mang tính văn hóa này không những khiến người ta sai đường mà còn có thể sinh ra cảm thức về sự cam chịu cho những người bị đặt vào (hoặc ngẫu nhiên được sinh ra) ở vị trí thua thiệt.
E. CĂN TÍNH VÀ SỰ TOÀN CẦU HÓA
Phần này có thể được coi là sự lý giải của tác giả về những xu hướng "chống toàn cầu hóa" gần đây, mà tự mình đã liên hệ đến câu chuyện "Make American Great Again" của tổng thống Mỹ đương nhiệm Donald Trump. Cũng bằng cách dựa trên căn tính, tác giả đã chỉ ra rằng:
1. Người ta gán "toàn cầu hóa" tức là phương Tây hóa, là chịu sự thống trị của phương Tây, nên dễ hiểu rằng, những nhóm người phẫn nộ trước sự tái thiết lập thống trị của phương Tây (có thể vì quá khứ bị đô hộ như mình đã review ở trên) cũng sẽ có xu hướng chống toàn cầu hóa. Thế nhưng, theo tác giả, thật ra toàn cầu hóa đã diễn ra hàng ngàn năm nay với các ví dụ minh họa về sự lan truyền kĩ thuật mới từ Trung Quốc sang các nước châu Âu (nam châm, thuốc súng, nghề in, la bàn,...) và ví dụ về ảnh hưởng của toán học phương Đông lên phương Tây. Nghĩa là, căn tính tác nhân của toàn cầu hóa không phải và không thể là căn tính độc quyền của phương Tây, cũng không nhất thiết phải gắn với sự thống trị của phương Tây.
2. Người ta lại cho rằng toàn cầu hóa đã tạo ra sự bất bình đẳng cơ hội giữa những nhóm người khác nhau, và do vậy họ phản đối toàn cầu hóa. Đề bác bỏ lập luận này, tác giả cho rằng đó là bởi những nhóm người này đã nhìn nhận toàn cầu hóa một cách chung chung, không tách bạch các vấn đề với nhau.
Tôi ấn tượng với cách ví von của tác giả Amatya Sen với hình tượng người phụ nữ trong một gia đình trọng nam khinh nữ. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề bằng cách lập luận rằng phụ nữ nên ra ngoài sống và không lập gia đình vì bị phân biệt đối xử. Cái chúng ta cần tranh biện hoặc giải quyết là vấn đề bình đẳng cho họ trong một gia đình không bình đẳng, chứ không phải tìm giải pháp né tránh vì không được bình đẳng (dọn ra ngoài sống, không lập gia đình).
Tương tự, chúng ta không thể nói rằng vì toàn cầu hóa tạo ra sự bất bình đẳng mà chúng ta phải chống đối, mà cách làm đúng đắn hơn (theo tác giả) là nên tập trung vào vấn đề làm thế nào để xóa bỏ sự bất bình đẳng đó khi toàn cầu hóa, mà trong chương này, tác giả có nhắc đến hoạt động của nhà nước và xã hội- những mối quan hệ và vai trò cần được nhận thức rõ ràng và tận dụng để làm thay đổi những bất bình đẳng này.
Quyển sách kết thúc bằng những dòng suy tư của tác giả về cái chết của Kader Mia, một người Hồi giáo vô tội bị giết chết bởi những người Hindu cuồng nộ. Kader Mia chết trong lòng tác giả khi ông mới 11 tuổi đã gợi lên cho ông một thế giới khác mà khi đó tác giả (theo Hindu giáo) và Kader Mia sẽ có những căn tính chung, thay vì những căn tính bị tự quyết theo từng cộng đồng tôn giáo tách biệt. Tôi nghĩ mình may mắn hơn tác giả, vì không cần có một xác chết nằm trong lòng, mà chỉ cần cầm quyển sách này trên tay, tôi cũng đã có những gợi mở về thế giới đó, thế giới mà căn tính của tôi và mọi người đều được tôn trọng.
Cao Thùy Trinh