Một quyển sách dẫn nhập về diễn ngôn (chủ yếu của Foucault) rất rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu
1. Với Foucault, diễn ngôn có 3 định nghĩa:
- Là tập hợp các phát ngôn có nghĩa và có hiệu lực trong thế giới
- Là tập hợp các phát ngôn được cá thể hóa (như diễn ngôn vè phụ nữ, diễn ngôn vềtrường chuyên,...). Hiểu nôm na là diễn ngôn "số nhiều".
- Là hoạt động được kiểm soát nhằm sản sinh ra các phát ngôn có nghĩa và có hiệu lực, có thể hiểu là các luật lệ, giới hạn đặt ra cho các phát ngôn có thể được nói ra.
2. Diễn ngôn mang bản chất loại trừ, tức để một diễn ngôn, ví dụ như về kỳ kinh nguyệt như là thứ gì đó cần phải che giấu, có vị trí chi phối, nó phải loại trừ các diễn ngôn khác về kỳ kinh (ví dụ như của feminists). Do đó, trong diễn ngôn luôn có sự tranh đấu quyền lực, nội tại của nó không bao giờ ổn định, mà có sự giằng co giữa các diễn ngôn khác nhau để giành quyền thống trị.
3. Nghiên cứu diễn ngôn quan trọng vì diễn ngôn hình thành cách ta nhận định về thế giới. "Không có gì có ý nghĩa ngoài diễn ngôn", Foucault nói. Tất nhiên, Foucault không cho rằng không có thế giới khách quan; ông chỉ tin rằng ta chỉ có thể tiếp cận thế giới đó qua diễn ngôn, qua đó làm thế giới ta thấy được hoàn toàn mang tính chủ quan, sắp đặt bởi diễn ngôn con người. Sara Mills đưa ra 2 cách mà qua đó diễn ngôn hệ thống hóa thế giới của ta: một là qua các cách categorize vô cùng ngẫu nhiên và phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, giữa động vật vs thực vật, các nhóm sinh vật,... và việc diễn ngôn sẽ quyết định cách ta diễn giải một hiện tượng khách quan (VD như cùng là trời mưa, nhưng có thể diễn giải như hiện tượng khoa học do hơi nước bốc hơi, hay là do ô nhiễm môi trường, hay là do Chúa giận dữ,...) Qua những cách ảnh hưởng tới nhận thức của ta, diễn ngôn sinh ra những hệ quả rất "thật" ở ngoài cuộc sống. Nếu tôi tin là mưa là do ô nhiễm môi trường, tôi sẽ hành động để giảm thiểu rác thải, khí CO2; còn nếu tôi tin là mưa là do Chúa giận dữ, thì có thể tôi sẽ đi làm lễ hiến tế. Nghe thì có vẻ vô hại, nhưng khi áp dụng diễn ngôn này vào cách diễn giải về vai trò phụ nữ trong xã hội, về người bản địa trong những cuộc "khai sáng văn minh",... thì ta mơi thấy rõ diễn ngôn ảnh hưởng tới hành động của xã hội như thế nào.
4. Debunk những myth về Foucault về khía cạnh diễn ngôn của intellectual dark web, nhóm người coi Foucault là Marxist-in-disguise. Có một khác biệt cơ bản nhất là Foucault đi từ việc phân tích ý thức hệ (ideology), vốn là đặc trưng của những nhà Marxists như Althusser, sang phân tích diễn ngôn (discourse) để làm sáng tỏ các giới hạn của tư duy. Phân tích ý thức hệ và phân tích diễn ngôn khác nhau ở 3 điểm cơ bản:
- Sự thật: Marxists tiền giả định rằng họ đang nói từ một góc nhìn của sự thật, đối lập với cái false consciousness tạo ra bởi ý thức hệ. Foucault thì cho rằng mọi kiến thức ta có, đều nằm trong diễn ngôn, nên Foucault cũng nhận thức rằng ý kiến của bản thân cũng bị trói buộc trong diễn ngôn. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là chỉ trích một số diễn ngôn trở nên bất khả thi.
- Chủ thể: Marxists, khi phân tích ý thức hệ, tập trung phân tích các nhóm người hoặc giai cấp, thếnhưng cuối cùng vẫn quay lại yếu tố chủ thể như là nhân tố kháng cự được ảnh hưởng ý thức hệ. Còn Foucault thì cố gắng xây dựng phương pháp khảo cổ học và phả hệ học tách rời khỏi chủ thể, và ông tập trung vào những quá trình gây dựng nên chủ thể tính nhiều hơn, e.g. thay đổi trong quan hệ quyền lực.
- Vềyếu tố quyết định: Marxists cho rằng quan hệ kinh tế là thứ quyết định ý thức hệ, Foucault thì cho rằng diễn ngôn được cấu tạo từ nhiều quan hệ quyền lực, kinh tế chỉ là một phần.
Một số khác biệt khác nằm ở cách Foucault và Marxists nhìn nhận diễn ngôn và ý thức hệ trong tương quan với quyền lực. Tóm gọn lại, Marxists nhìn quyền lực theo model top-down, tức quyền lực chỉ đi 1 chiều; và quyền lực mang tính đè nén (repressive). Foucault phủ nhận cả 2 cách nhìn này. Ông cho rằng quyền lực luôn được thương thảo giữa 2 bên, do đó, để nói về quan hệ quyền lực như là kẻ thống trị vs kẻ bị trị là đơn giản hóa vấn đề. Tất nhiên, Foucault không phủ nhận là sẽ có người ở vị trí mạnh hơn, thế nhưng Foucault cũng cho rằng kẻ yếu thế hơn cũng có thể áp chế quyền lực lên kẻ mạnh. Do đó, khác với góc nhìn ideology khá pessimistic của Marxists, Foucault cho rằng diễn ngôn (vì nó là tranh đấu quyền lực) sẽ luôn có sự thương thảo của quan hệ quyền lực. Một diễn ngôn về phụ nữ trong một xã hội có thể bao gồm diễn ngôn về phụ nữ như là chỉ hợp với nội trợ, việc trong nhà, và cả diễn ngôn về phụ nữ như là bình đẳng với đàn ông trong công việc. Không những vậy, Foucault cho rằng quyền lực không chỉ mang tính đè nén như Marxists nói, mà còn mang tính sản sinh (productive). Ví dụ như, bất bình đẳng quyền lực giữa phụ nữ và đàn ông sinh ra rất nhiều nghiên cứu về phụ nữ, hay tương tự như người da trắng-người da đen,... Ở đâu có bất bình đẳng quyền lực, ở đó có sự sản sinh diễn ngôn và tri thức mới. Bên cạnh đó, để một diễn ngôn sinh ra và trở nên thống trị, nó phải áp chế quyền lực lên các diễn ngôn cạnh tranh khác. Do đó, quyền lực không thể nào tách rời khỏi sản sinh diễn ngôn và tri thức. Ngược lại, diễn ngôn cũng giúp hợp thức hóa quyền lực (như đã nói ở phần ảnh hưởng của diễn ngôn).
Một điểm khác biệt nữa là về ảnh hưởng của ý thức hệ và diễn ngôn. Trong khi Marxists cho rằng ý thức hệ (hầu như) luôn đạt được mục đích nó muôn đề ra, ví dụ như là ý thức hệ về tân tự do sẽ khiến giới tư bản hợp thức hóa quyền lực, thì Foucault cho rằng diễn ngôn có ảnh hưởng không đoán định được. Ví dụ như diễn ngôn về sexuality của trẻ con thời Victoria, cho rằng thủ dâm nam là cái gì đó rất cấm kị, thế nhưng hậu quả là càng cấm, thì trẻ con càng tò mò và càng thích thú hơn. Vậy diễn ngôn về cấm kỵ tính dục rốt cuộc dẫn đến sự tính dục hóa. Do vậy, rất khó để có thể đoán định một diễn ngôn sẽ gây ra hệ quả gì, vì có nhiều yếu tố có thể bẻ cong mục đích ban đầu của kẻ sản sinh diễn ngôn.
Tóm lại, Foucault, tuy có được inspired bởi Marxism, nhưng rất khó để có thể nói Foucault là Marxist bởi ông phủ nhận nhiều tiền đề của Marxism.
5. Foucault nói về các cách mà kẻ truyền bá 1 diễn ngôn loại trừ các diễn ngôn còn lại. Đầu tiên là loại trừ từ bên ngoài:
- Prohibition (hay taboo): một số điều được coi là cấm kỵ và không được nói. Ví dụ như là kỳ kinh phụ nữ, sex, cái chết. Thế nhưng những cái cấm kỵ này là hoàn toàn ngẫu nhiên và context-dependent.
- Madness/reason: kẻ điên thì không có quyền nói và nói thì cũng không ai tin. Thế nhưng, thế nào là điên? Và ai có quyền được nói thế nào là điên? Foucault cũng nói rằng diễn ngôn về bệnh điện đã thay đổi theo thời gian, và vì nhiều lý do ngẫu nhiên, chứ không phải do sự tiến bộ.
- True/false: Những gì sai thì không được nói ra. Nhưng ai là người cho mình cái quyền quyết định thế nào là đúng, và thế nào là sai?
Loại trừ từ bên trong:
- Bình luận (commentary): các văn bản được bình luận nhiều được giữ trong lưu thông, nhằm duy trì một diễn ngôn ổn định. Điều này loại trừ các văn bản không được bình luận nhiều. Ví dụ như feminists rất khó có thể tìm văn bản nào được viết bởi phụ nữ, do nó không được bình luận và không được coi là "canonical work".
- Discipline (ngành học): mỗi ngành sẽ có một hệ thống phương pháp riêng, hệ thống luận điểm và câu từ, mà sẽ quyết định cái văn bản học thuật có giá trị hay không. Tuy nhiên, điều này vô tình làm hạn hẹp cái nhìn của một nhà nghiên cứu, vì họ chỉ nhìn sự vật trong một góc nhìn của ngành của mình, trong khi một hiện tượng có thể diễn giải theo rất nhiều cách khác nhau.
- Tác giả: tác giả như là nguồn ý nghĩa duy nhất cho tác phẩm, ngăn chặn các cách diễn giải khác.
6. Tất cả những phân tích này để làm gì? Foucault muốn tìm ra giới hạn ngẫu nhiên cho suy nghĩ của ta, vốn quy định bởi diễn ngôn mà ta sử dụng. Foucault bắt ta phải hoài nghi chính cách ta tư duy, nghĩ ra các khả thể mới cho sự sống, mở ra những tự do mới cho chúng ta.