Phật giáo ra đời từ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - Ấn Độ - và nhanh chóng phổ biến tại các nước phương Đông. trải qua nhiều thé kỷ, với những biến động, thăng trầm, dù bị chia rẽ thành nhiều tông phái với nhiều lập trường giáo lý khác nhau nhưng Phật giáo vẫn giữ vững tinh thần chủ đạo của mình: từ bi, hỷ xả, khoan dung, đại lượng. Có lẽ vì thế mà Phật giáo luôn có chỗ đứng trong cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau (kết hợp với tín ngưỡng dân gian, hoặc với Nho giáo và Đạo giáo vv.).
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu Phật học không chỉ giới hạn trong phạm vi các trường Đại học, các hội đoàn chuyên môn, mà đã lan ra đến nhiều tầng lớp trong xã hội. Nhiều cuốn sách về Phật học đã ra đời, với nhiều trình độ khác nhau để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Phật giáo. Phật học tinh hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần là một cuốn sách dành cho những người bước đầu tìm hiểu Phật giáo. Có thể coi đây là một cuốn sách đại cương triết học Phật giáo hoặc nhập môn Phật học đều được.
Cụ Thu Giang, khi chấp bút viết cuốn sách này, đã chăm chút rất kỹ lưỡng cho từng trang viết. Nếu có đoạn nào chưa vừa ý, hoặc cảm thấy viết chưa tới, ông xé bỏ đi và viết lại viết cho đến khi nào thật ưng ý mới thôi. Tuy nhiên, vì ra đời vào những năm 60 của thế kỷ trước, lại dựa trên những hiểu biết và cảm quan của riêng tác giả về Phật giáo nên đôi ý trong sách không tránh khỏi sa vào những nhận định cá nhân. Vì vậy, kính mong quý độc giả hãy tiếp nhận cuốn sách với tinh thần từ bi của nhà phật, như đón nhận một tia sáng mới trong ánh sáng rực rỡ, lấp lánh muôn màu của Phật giáo.
- Nhà xuất bản Trẻ
"Người học Phật phải mở rộng tâm hồn trí não hầu có thể cảm thông với mọi giáo lý khác. Sự cố chấp, hẹp hòi và cuồng tín là trái rất xa với tinh thần Phật giáo: chân lý hiện lên muôn mặt, học thuyết này, học thuyết kia chỉ là là một vấn đề trình độ căn cơ mà thôi. Phật học, đầu tiên là một cái học phá trừ kiến chấp".
Nguyễn Duy Cần (1907-1998), hiệu Thu Giang, là một học giả, nhà văn, nhà biên khảo và trước tác kỳ cựu vào bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20.
Ông làm nghề viết sách, dạy học, lương y, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang, Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử, Linh Chi… Ông sống cùng thời với các học giả và nhà văn như: Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng…
Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tầng lớp thanh niên trí thức của ông.
Thân thế và cuộc đời
Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1907 tại làng Điều Hoà, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).
Ông là con trai của ông Nguyễn Văn Tâm, một người uyên thâm Hán học và là một trong những người được đào tạo Tây học khóa đầu tiên vào những năm 1885 - 1890. Sau khi ra trường, ông Tâm làm thầy giáo rồi được phân công làm Đốc học kiêm Thanh tra giáo dục Mỹ Tho trong những năm 1910 đến 1920, sau đó được chính quyền thực dân phong hàm Đốc phủ sứ. Ông Nguyễn Văn Tâm vốn là một nhà Nho rất tinh thâm Đạo học Đông Phương (Dịch, Lão, Trang) nhưng lại có tinh thần phóng khoáng, chuộng tư tưởng tự do nên rất ủng hộ Tây học. Chính người cha đã có ảnh hưởng đến Nguyễn Duy Cần rất lớn trên con đường nghiên cứu Đạo học sau này.
Nguyễn Duy Cần sinh ra vốn là một cậu bé có thể chất ốm yếu, khó nuôi nên cha ông cho ông theo làm con nuôi một cha Đạo người Pháp ở nhà thờ Mỹ Tho và ông được cho làm lễ rửa tội theo Đạo Thiên Chúa với tên thánh bổn mạng là Jacob, nhờ bước ngoặc này mà thời niên thiếu ông có cơ duyên tiếp xúc sớm với văn hóa Pháp thông qua sự dạy dỗ của cha Đạo, ông được học giáo lý Công Giáo, học Thánh Kinh cũng như học đàn, vẽ với các cha Đạo người Pháp và tất nhiên là học toàn bộ bằng Pháp ngữ.
Hàng ngày, sau giờ học ông lại say mê đọc các sách về thần học và văn hóa nghệ thuật Pháp và phương Tây trong thư viện của nhà thờ. Vì tiếp xúc với văn hóa Pháp sớm lại là người say mê đọc sách, học hỏi nên ông thừa nhận mình bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp, như ta thấy ông thừa nhận trong phần lời nói đầu quyển Tôi tự học: “…Guitton, Jules Payot, Gustave Rudler, là những học giả mà tác giả đã chịu nhiều ảnh hưởng nhất,…” hay trong Dịch kinh tường giải ông nói: “…Pháp ngữ là văn tự của văn minh cao nhất đại diện cho văn hóa La Tinh”, về sau trong các tác phẩm biên khảo của mình ta thấy ở phần tài liệu tham khảo ông ghi các tác phẩm ông nghiên cứu có đến 80 phần trăm là tài liệu bằng Pháp ngữ.
Sự nghiệp nghiên cứu và trước tác của Nguyễn Duy Cần bắt đầu từ năm 1931 với việc xuất bản quyển Triết học đầu tiên "Toàn chân", gây nên một cuộc bút chiến sôi nổi trên báo Mai. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục cho xuất bản các tác phẩm khá đều đặn. Năm 1935, ông cho ra đời quyển sách đầu tay: Duy tâm và duy vật.
Năm 1937, ông Nguyễn Văn Tâm sáng lập ra Tạp chí Nay, giao cho con trai là Nguyễn Duy Cần làm chủ bút kiêm quản lý. Lúc bấy giờ ở Mỹ Tho có nhiều tờ báo xuất bản tại địa phương, hầu hết dưới dạng tạp chí, có tờ ra định kỳ, có tờ ra không định kỳ và thường không kéo dài như: Chiêu Anh văn tập, Đông phương tạp chí, Tiểu thuyết tuần san,... Tạp chí Nay của Nguyễn Duy Cần sống lâu hơn, ra được 15 số (số 1 ra ngày 1 tháng 6 năm 1937 và số cuối cùng ra ngày 15 tháng 7 năm 1938).
Tạp chí Nay là một tạp chí văn chương, triết học, khoa học, y học, xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, mang tính chuyên nghiệp cao. Báo thường xuyên có các bài luận thuyết về triết học của Thu Giang và nghiên cứu về văn học của Nguyễn Phi Oanh, về tâm lý học của Tùng Chi, về y lý Đông - Tây của Vũ Trang,... và nhiều mục thường xuyên khác như: Học chữ Hán, Đạo đức kinh, Ẩm thực học, Tin Văn, Chuyện lặt vặt nên biết qua,… Đặc biệt, mục Thời cuộc thế gian đăng tin tức quan trọng ở trong nước, Đông Dương và Âu Tây. Với bút hiệu Thu Giang, chủ bút Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều cho tạp chí này. Ông có mặt thường xuyên ở mục triết học Đông - Tây và mục văn chương k
"Sau khi giác ngộ, lưỡng lự trước việc có nên hay không truyền bá đạo lý của mình cho chúng sinh, Phật cuối cùng quyết định: Chân lý sẽ mở rộng cửa cho mọi người. Kẻ nào có tai để nghe thì nghe!"
Phật học tinh hoa có thể nói là cuốn sách hay nhất trong các cuốn mình đã đọc của cụ Nguyễn Duy Cần (tính tới thời điểm này là 7 cuốn). Khúc chiết, cô đọng, sâu sắc, nhưng không hề trừu tượng khó hiểu, ngược lại tương đối mạch lạc, logic và dễ theo dõi. Đặc biệt, nếu như ở các cuốn Trang Tử tinh hoa, Lão Tử tinh hoa..., tác giả hơi gay gắt và có phần không khách quan khi nhắc đến đạo Khổng và văn minh phương Tây, thì ở cuốn này giọng văn của cụ khá ôn hòa và trung dung. Cuốn sách gồm năm chương với ba phụ lục, có thể được chia ra thành hai phần chính. Ba chương đầu giới thiệu về cuộc đời đức Phật, về những điều kiện tinh thần thiết yếu của một người muốn học và thực hành giáo lý Phật, về sự đa dạng phong phú của kinh điển Phật giáo, về sự phân chia, về các điểm đại đồng và dị biệt của các truyền thống và môn phái khác nhau. Hai chương còn lại và phần phụ lục tập trung giảng giải những tư tưởng mà tác giả cho là căn bản và quan trọng của đạo Phật, cần thiết cho người mới bắt đầu con đường tìm hiểu và tu tập. Ví dụ như lý thuyết về duyên sinh quan, bình đẳng quan, trí huệ bát nhã, định nghĩa niết bàn, luân hồi, những phương thức tu hành khác nhau, hay quan niệm của nhà Phật về thiện và ác. Phụ lục cuối sách là bộ tranh Thập mục ngưu đồ của Đại Thừa, mô tả khá thú vị quá trình tu tập thân tâm, tìm lại Phật tính, xóa trừ vô minh. Tuy có thể được chia làm hai phần như vậy nhưng nội dung của hai phần liên kết khá chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Mình đọc hai lần, một lần theo thứ tự từ đầu đến cuối, một lần đọc các chương lung tung theo ý thích ngẫu nhiên từng lúc, nhưng vẫn có thể theo dõi được mà không gặp quá nhiều khó khăn. Chẳng hạn như chương hai (Những điều kiện tinh thần của người học Phật - mà tác giả gần như dịch từ chương một của cuốn What the Buddha Taught) đề cập đến thái độ cần có của người mới bắt đầu học hỏi tu tập, nhưng đồng thời cũng là thái độ tinh thần cốt tủy của đạo Phật. Đó là tinh thần tự lực, không dựa dẫm, không tin tưởng mù quáng vào bất cứ ai, kể cả Phật, trước khi tự bản thân đã trải qua suy ngẫm và chứng thực các giáo lý, các lời dạy. Vì Phật chỉ có thể làm việc chỉ đường, còn việc thực hiện, việc đi trên con đường là ở bản thân mỗi người. Không ai có thể đi hộ ai được. Tiếp theo là tinh thần Vô Trước (Vô chấp), không để mình bị ràng buộc, bị vướng mắc, cố chấp vào bất cứ điều gì, vào bất cứ tư tưởng nào, kể cả Chân Lý. Bởi vì "Phật học, đầu tiên, là một cái học phá trừ kiến chấp" và vì "Sự cố chấp, hẹp hòi và cuồng tín là trái rất xa với tinh thần Phật giáo." Chương thứ ba giảng về các kinh điển và truyền thống khác nhau của Phật giáo, nhưng đồng thời cũng mở đường phân tích những khái niệm chính yếu được tất cả các truyền thống thừa nhận như Tứ diệu đế, Vô Thường, Vô Ngã... và khẳng định rằng sự phân chia ra các phương pháp, truyền thống, quan điểm khác nhau chẳng qua là chỉ vì dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh, cũng nhưng trình độ căn cơ khác nhau của người tu tập. Giống như thầy thuốc căn cứ vào điều kiện sức khỏe của từng bệnh nhân mà bốc thuốc, dù mục đích đều là để chữa bệnh. Các truyền thống phương pháp khác nhau, kỳ thực, đều chỉ là phương tiện, không nên quá câu nệ và chấp trước vào sự phân chia này, bởi vì "Dù là Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mục đích của Phật giáo không ngoài hai chữ Giải Thoát." “Các lời dạy của Khế Kinh chẳng khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu đã thấy mặt trăng thì có thể biết rằng cái để chỉ mặt trăng đó, rốt cuộc chẳng phải là mặt trăng. Tất cả lời nói của Như Lai Khai Thị Bồ Tát cũng cùng một thế.”
Tứ diệu đế (bốn chân lý/sự thật cao cả) bắt đầu với sự thật về khổ (Khổ đế). Cuộc sống là khổ, vì sinh lão bệnh tử, vì những niềm vui và hạnh phúc thì mau qua và chẳng tồn tại mãi, vì những gì càng đẹp thì thường càng chóng tàn. Giống như thời gian thư thái đọc sách uống bia thì ngắn ngủi mà thời gian cong mông lê lết làm việc kiếm ăn thì tưởng như vô tận. Khổ vì ai ai cũng đều có một mục đích lớn lao, cả đời chạy theo nó, có được nó rồi thì không thỏa mãn, tiếp tục chạy theo một thứ khác dường như là đẹp hơn cao cả hơn, hoặc lo lắng buồn bã vì sợ mất điều vừa đạt được. Một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại. Và trên tất cả là nỗi đau khổ từ cái chết. Về điểm này, triết lý của Phật dễ làm người ta liên tưởng đến triết gia Đức Arthur Schopenhauer. Nguồn gốc của nỗi đau khổ là sự thật thứ hai (Tập khổ đế). Theo Phật giáo, nguồn gốc của đau khổ là vì không nhận ra (Vô minh) bản chất vô thường (không thể tồn tại mãi mãi, không thường trụ), không nhận ra được sự sinh diệt không thể tránh của vạn sự vạn vật. Hoặc lý trí nhận biết được nhưng lòng vẫn ham muốn, vẫn mơ ước những người thân yêu, những điều mình yêu quý và say mê được tồn tại mãi mãi, được đẹp đẽ mãi mãi, không bị biến đổi, không bị hủy diệt. Nguồn gốc sâu xa hơn nữa của điều này là vì không nhận ra được bản chất Vô Ngã của mọi sự vật. Mọi sự vật, kể cả bản thân chúng ta, chỉ là do các nhân duyên hòa hợp, kết hợp lại mà (dường như là) tạo thành, do các nhân duyên phân chia tan rã ra mà (dường như là) hủy diệt. Kỳ thực tất cả đều không có tự tính nên không thể nói là có thực sinh thực diệt. Ngay cả sự tồn tại của các nhân duyên cũng đều là do sự nương tựa và hòa hợp lẫn nhau, nhân của cái này là quả của nhân khác và ngược lại. Không sự vật nào có thể tự thân tồn tại mà không phải là sự kết hợp của các nhân duyên khác. Không có nhân đầu tiên, không có quả sau cùng. Vì vô minh không nhận ra được điều này nên coi lầm rằng bản thân và mọi sự vật đều có bản ngã tự tính, dẫn đến tâm phân biệt nội và ngoại, mình và vật, ta và người, sinh và tử, được và mất... là đầu mối của mọi lòng yêu ghét, thù hận, tham lam, ích kỷ. Diệt trừ sự vô minh vềbản ngã, diệt trừ tâm phân biệt nội ngoại này là cách để diệt trừ đau khổ. Đó là sự thật thứ ba (Diệt khổ đế). Để làm rõ hơn về bản chất vô thường vô ngã của vạn vật nhằm giải trừ vô minh, Phật dùng đến thuyết Nhân duyên Quả báo, hay gọi tắt là Nhân Quả. Nhân là nguyên do, là chỗ phát sinh; Duyên là đối đãi, nương tựa vào nhau. Vậy thì Nhân Duyên là sự nương nhau của các Nhân hội hợp lại. “Nhất thuyết pháp, nhân duyên sinh”: tất cả vạn sự vạn vật đều do nhân duyên mà sinh ra; “Ly nhân duyên biệt vô ngã”, rời bỏ nhân duyên ra, không còn có gì gọi là “Ngã” (TA) nữa cả. Quả không bao giờ do một Nhân duy nhất mà thành, mà do nhiều Nhân hợp với nhau mới có được một quả. Nhân và Duyên đều có nhiều loại, trộn lẫn với nhau, tạo nên mọi vật, cho nên không thể có chỉ mình một vật nào đủ sức sinh ra một vật khác (vô sinh). Vì vô sinh (không thực sinh) nên vô diệt (không thực diệt). Vì sự tồn tại sinh diệt của mọi sự mọi vật chẳng qua đều là sự tan hợp không ngừng nghỉ của các nhân duyên, nên không có sự vật nào là có thực tính (vô ngã). Vì không rõ hoặc không chịu rõ lý lẽ này nên khi có được thứ mình yêu thích mong muốn thì mê lầm cho đó là thực sinh, bám víu, cầu mong nó tồn tại mãi mãi, đến khi nó tiêu hủy biến mất thì lại cho rằng đó là thực sự hủy diệt. Một đặc điểm khác nữa của tư tưởng Phật giáo, là cho rằng Luật Nhân Quả không bị sự hạn chế của thời gian. Một Nhân được tạo ra, nhưng chưa gặp Duyên (điều kiện) thích hợp thì cũng chưa thể tạo nên Quả. Dùng lý lẽ này, Phật giáo giải thích cho việc có nhiều người sống tốt đời đẹp đạo nhưng lại đang gặp toàn điều không may mắn và ngược lại. Hiểu được quan niệm vô thường vô ngã và thuyết nhân quả sẽ hiểu được rằng sự khác nhau về hình dạng bên ngoài của vạn sự vạn vật (vạn tướng) chỉ là giả tạm, không thực có, chỉ do nhân duyên giả hợp mà thành. Con người, do bị hạn chế bởi các giác quan, chỉ nhìn thấy sự biến động nhất thời trên bề mặt của các hiện tượng nên không thể quan niệm về thế giới theo một cách nào khác ngoài phân chia nó thành ta và người, thành trong và ngoài, thành quá khứ, hiện tại, và tương lai, thành sinh và tử, thành được và mất...Kỳ thực về phương diện Bản Thể, không có gì có thể gọi là thực biến động hay thực sinh thực diệt. Giống như ánh sáng trắng qua lăng kính biến đổi thành đủ bảy sắc cầu vồng, chứ thực sự chỉ là ánh sáng trắng. Như một bé gái lúc 5 tuổi không thể giống thiếu nữ lúc 16 tuổi, nhưng lại vẫn là cùng một người. Như một dòng sông chảy liền mạch như một dải lụa nhưng lại là sự kết nối của muôn triệu giọt nước. Vì vậy mà mọi sự mọi vật là giống nhau và thực chất chỉ là một (triết lý Bình đẳng quan). Phật là chúng sinh, chúng sinh là Phật, đứa trẻ là ông già, sinh tử là một, quá khứ và vị lai là một, niết bàn và luân hồi là một. Hiểu được điều này là đạt được Trí huệ Bát Nhã, không còn tâm phân biệt ta và người vô minh, là đầu mối của mọi tham muốn ham dục, mọi yêu ghét thù hận, là đầu mối của khổ. Hiểu được điều này, người đạt đạo không hề muốn lẩn tránh hiện tượng, xa lánh cuộc đời, quy y thoát tục như cách nhiều người vẫn nhìn nhận về Phật giáo. Trái lại, người đạt đạo sống giữa cuộc đời, làm những việc cần làm của một người bình thường, nhưng thuận theo hoàn cảnh, nương nhờ vào hoàn cảnh mà không vướng mắc, không chấp vào hoàn cảnh, không chống đối lại nó. Bởi vì hiện tượng và bản thể là một. Giống như người biết bơi thì hiểu quy luật của dòng nước, thuận theo nó, không chống đối lại nó, vì vậy mà ung dung tự tại di chuyển, còn người không biết bơi thì hoảng loạn luống cuống, càng chống chọi càng nhanh chìm. Người đạt đạo không cầu chứng giải thoát hay niết bàn. Giải thoát hay Niết Bàn không phải là một khái niệm hay một điều gì xa vời nằm bên ngoài thế giới hiện tượng. Nó nằm trong hay nó chính là thế giới hiện tượng. Vì sinh tử đau khổ và giải thoát là một, luân hồi và niết bàn là một, tịnh độ và ta bà là một. Người chưa đắc đạo chặt gỗ đốn củi, khi đắc đạo ông vẫn chặt gỗ đốn củi, chỉ với cái tâm khác biệt. Phật và chúng sinh là một, chỉ khác nhau giữa tâm mê và tâm ngộ. “Một người kia hỏi một vị Thiền sư: - Hạ đã qua rồi đông sẽ đến. Vậy làm sao tránh khỏi? - Tại sao anh không tìm nơi một chỗ nào không có mùa hạ và mùa đông? - Làm sao tìm ra được một nơi như thế? - Vậy thì đông đến, anh hãy cứ run. Hạ đến, anh hãy cứ để cho đổ mồ hôi như mọi người.”
"Theo cái thấy của tôi thì quý vị có cần phải làm gì đâu, chỉ nên sống cho bình thường thôi. Hãy mặc áo, ăn cơm, ngày này qua ngày khác làm một người vô sự. Các vị từ bốn phương tới đây đều nghĩ rằng mình là những người có tâm cầu Bụt, cầu Pháp, cầu giải thoát, cầu ra khỏi ba cõi. Đồ ngu. Ra khỏi ba cõi thì quý vị đi đâu? "- Dạy chúng - Lâm Tế Ngữ Lục .
Với cá nhân mình, lý thuyết duyên sinh không hẳn đã hoàn toàn thuyết phục, nhất là lý lẽ Nhân Quả, nhân kiếp này là quả kiếp sau, khi mà sự liên hệ giữa kiếp này và kiếp sau có lẽ là một điều khó có thể chứng minh một cách thuyết phục. Dù vậy, cái học Phật giáo là cái học thực hành thực dụng, chú trọng vào việc luyện tập thân tâm hằng ngày chứ không đơn thuần là sự hiểu biết suy luận logic lý lẽ. Hiểu nhưng không luyện tập thực hành thì chỉ là người tò mò tri thức, chưa phải là người học Phật. Chính vì vậy mà mới có chuyện như một bác từng đăng status trên goodreads về việc “thông thạo lý lẽ nhà Phật, nhưng hành xử thì vẫn như con cak.” Phật không bao giờ muốn sa đà vào các tranh biện logic siêu hình giải thích thế giới như các nhà triết học đơn thuần, Ngài luôn nhấn mạnh chỉ vào một mục tiêu duy nhất là thoát khổ. Và trên hết, có ai mà không thể cảm động trước lòng đại từ đại bi, trước tình thương này của Phật: “Phật còn đau khổ là vì tất cả chúng sinh còn đau khổ. Kẻ nào biết đau khổ vì cái đau khổ của kẻ khác, kẻ ấy mới có thể đi đến bên Phật. Kẻ nào không biết đau khổ cái đau khổ của kẻ khác, tức là thản nhiên được trước đau khổ của kẻ khác, kẻ ấy không bao giờ vượt qua cái bản ngã của mình. Ngày nào mà chúng sinh còn một giọt nước mắt, ta sẽ không bao giờ thành Phật được.”
Nhiều chỗ đọc chưa hiểu. Tuy nhiên nhiều tư tưởng hay mà lờ mờ cảm nhận. Ngẫm lại không biết đa phần Phật Tử và cả các sư họ tu có đúng không nữa. Vốn tu để diệt Ngã, mà sao thấy toàn làm thiện vì sợ nhân ác sinh quả ác, vốn dĩ không phải thật tâm.
Phần hay nhất chắc là phần về Bồ Tát :D. Túm lại đoạn giữa mình chả hiểu gì :P hihi.
Mới đọc được 1/10 cuốn nhưng có vẻ hay. Mình vốn biết sơ về cuộc đời Phật Thích Ca, biết ông là hoàng tử. Nhưng vốn không để ý, giờ mới biết đó là một giai đoạn cần thiết. Và, có ví von về người cha tìm cách cứu đàn con trong căn nhà cháy, mà không thể vào trong nhà mà đàn con thì không sợ lửa. Tương đương với hình ảnh Đức Phật và nhân loại trong ngọn lửa dục vọng. Ví von hay tuyệt.
Nhân về sự tìm đọc đến cuốn này cũng có chút duyên (coi là vậy đi).
Trong những ngày "giả" rảnh rang, mình đoc lại sách. Đầu tiên là đọc Homo Deus và Sapien. Cuốn nào cg đang đọc dở.
Vô tình nhớ tới tinh thần tự do của Zorba mà comment vài dòng với người bạn, biết tới Hermann Hesse. Đọc một lèo 5,6 cuốn của ông, bởi cảm thấy đồng cảm sâu sắc.
Ngẫm đi ngẫm lại về Siddhartha, nên tìm đọc vài bài viết và ít sách về Phật giáo. Đầu tiên là Tứ diệu đế và Bát chánh đạo, đọc sơ bài viết trên thuvienhoasen. Cảm nhận thấy lý thuyết của Phật rất thú vị và hệ thống. Rồi đọc sách, bắt đầu bằng cuốn này. Mình không có ý định nghiên cứu hay đọc nhiều về Phật giáo, chỉ muốn tìm hiểu chút về lịch sử và những điều cốt lõi về mặt triết học của nó, cái gốc mà Thích Ca đã giảng.
Hôm qua đọc tiếp (lại) Sapien tới đoạn về Phật giáo cũng giải thích về Tứ diệu dế và nguyên nhân của khổ. Vô tình chung 1 ngày. Sáng đọc trên mạng thì tối đọc Sapien. Kể cũng trùng hợp :).
À, có một đoạn mình thật thắc mắc là có phải Thích Ca đã nhìn thấy cả các kiếp trước của mình không? Hay đó vốn là một ẩn dụ thôi. Mình có chút thấu cảm về sự lặp đi lặp lại của cuộc sống. Dù bề ngoài có thay đổi, nhưng bên trong thì không. Sự trừu tượng, niệm mới là thật, còn mọi hình thức bề ngoài (diện mạo, lời nói, hành động) chỉ là cái áo khoác, có thể phản ánh đúng hoặc sai. Và cái trừu tượng này thì lặp đi lặp lại. Vậy nên, (với mình) điều này có thể giải thích sự mâu thuẫn về linh hồn và neuroscience hay behavior pattern, machine... Tuy nhiên về các kiếp và các vấn đề nhiệm màu thì không rõ lắm :D.
Cuốn sách khiến tôi suy nghĩ Đức Phật hướng dẫn chúng ta 4 bước giải quyết vấn đề trong cuộc sống thường ngày của mình.
Tôi đọc lại nhiều lần và thấy rằng từ cổ thay đổi theo thời gian. Bản thân mình cũng không thể hiểu ý nghĩa. Cho dù thời gian, ý nghĩa từ ngữ thay đổi thì 4 bước giải quyết vấn đề vẫn tồn tại cho đến nay. Chỉ có khác là người ta diễn đạt theo từ ngữ, phương tiện hiện đại. Khi đọc những cuốn sách kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề đều thấy tư tưởng của Tứ Diệu Đế.
Vượt lên cả thiện và ác. Thiện và ác đều là trợ duyên.
—
Đọc lần 2 - Càng đọc càng thấy rộng, sâu, chắc sẽ còn phải đọc lại thêm vài lần nữa.
Về mặt tông phái, Phật pháp/Phật giáo ngày nay có rất nhiều tông phái khác nhau, nhưng không hẳn và cũng không hề có sự mâu thuẫn. Các tông phái, các con đường suy cho cùng đều dẫn về chung một đích, chỉ là tùy căn cơ, khả năng của mỗi người khác nhau mà có thể tiếp cận và đi theo một con đường phù hợp.
Một số ý mà mình thấy rất có giá trị:
- Văn tự có hạn chế của văn tự, bất kể là ngôn ngữ có phức tạp/đầy đủ/biến ảo đến đâu đi nữa thì cũng khó mà diễn tả hết được chân lý nếu như không tự mình thực hành, trải nghiệm. Nhưng văn tự cũng rất là hữu dụng, như là một phương tiện để dẫn đường. - Phải thực chứng, thực hành để nhận ra được chân lý, và chân lý đó là của tự mình chứ không phải của ai khác mang cho mình. - Câu chuyện người bị dính tên tẩm độc. - Theo các nhà nghiên cứu Phật học, sở dĩ có Đại thừa và Tiểu thừa là vì căn khí chúng sinh có cao có thấp, có lớn có nhỏ nên Phật mới tùy căn cơ mà thuyết pháp, mà phái Thiên Thai gọi là “ngũ thời thuyết pháp” - Người bằng muối (diêm) - hòa tan mình vào biển nước mênh mông - Danh từ Nam tông và Bắc tông là danh từ địa lý. Danh từ Tiểu thừa và Đại thừa là danh từ để chỉ phần tư tưởng và giáo lý dị biệt giữa các môn phái Phật giáo. - Thường thì cái Quả không bao giờ do một Nhân duy nhất mà thành, mà do nhiều Nhân hợp với nhau mới có được một cái Quả hiện ra. - Ác nghiệp là cái dây xích bằng sắt, Thiện nghiệp là cái dây xích bằng vàng... đều không thể dùng để đi đến giải thoát.
Tổng quan thì cuốn này là một cuốn rất nên đọc, có thể coi nó như một tấm bản đồ rất sơ lược giúp có cái nhìn tổng quan và nhanh chóng trong chỉ hơn trăm trang sách.
---
4.5 sao
Đọc lần 1
Một cuốn viết rất ngắn, gọn, và làm rõ được nhiều ý. Cuốn này là cuốn nên đọc, nó giúp quá trình tiếp cận đến Phật pháp không bị đi vào một rừng kinh, luận, luật rất đồ sộ. Cuốn này cũng có những góc nhìn, so sánh khá rõ ràng về các "tông phái" khi học, tu Phật.
Mình mua quyển này từ tháng 10/2018, đến giờ mới đọc xong. Đọc 3 chương đầu rất xuôi, đến khi đọc phải phần duyên sinh quan, chân như, thể, dục,... thì thấy thực sự trừu tượng, khó hiểu, những cái đầu óc quen suy nghĩ logic như mình thấy khá hoang mang. Bỏ vẳng 1 thời gian, quyết định đọc lại từ đầu sách, cảm thấy nắm bắt được 1 ít ý tứ của cụ. Thấy hay nhất là phần Niết Bàn, cụ chỉ ra những điểm sâu sắc, tuyệt diệu trong giáo lý của Phật Đại Thừa. Mình cho 5* vì sách này đã truyền tải dc tới mình những hiểu biết, triết lý cơ bản , tinh thần phá chấp Phật giáo. Cuốn sách này chắc chắn mình và hẳn nhiều người khác sẽ đọc đi đọc lại nhiều lần.
Với một đầu óc sùng tín dễ dàng, con người dễ dẫm lên những thành kiến cố hữu và từ mới lọt lòng mẹ đến giờ đã hun đúc và khuôn khổ từ manh mún tình cảm, tư tưởng của ta. Không gì ru ngủ con người bằng thành kiến và tập quán tư tưởng: trước ta người ta đã cảm nghĩ như thế, nay ta cũng cảm nghĩ theo như thế... và sau này thiên hạ ai ai cũng sẽ cảm nghĩ như thế mãi... Tư tưởng theo kẻ khác, dù “kẻ khác” ấy là ai, là gì... không còn phải là tư tưởng nữa! Tư tưởng theo ta, cảm giác theo ta, nghĩa là theo cái ta chân thật chứ không phải cái “ta xã hội” của ta, mới thật là tư tưởng. Người học Phật, trước hết phải biết tư tưởng theo mình, không nên nô lệ bất cứ một kẻ nào khác, một học thuyết, đạo đức, luân lý, tôn giáo nào cả.
Phật Học Tinh Hoa là cuốn sách được tác giả ấp ủ suốt hơn hai mươi năm, nói về những quan niệm, định nghĩa sai lệch mà người theo Phật học hay mắc phải, cũng như những cái quan trọng, những điều tinh hoa trong Đạo Phật và người theo Phật Giáo cần phải hiểu rõ.
Nguyễn Duy Cần (1907 - 1998) có hiệu là Thu Giang, là một trong những học giả, nhà biên khảo kỳ cựu bậc nhất Việt Nam giữa thế kỷ 20. Ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến các tầng lớp thanh niên trí thức.
Ông làm nghề y, nghề giáo, viết sách, nghiên cứu Đạo học, Kinh Dịch, với các biệt hiệu: Thu Giang, Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử….. Ông từng là giáo sư của trường Đại học Vạn Hạnh và là trưởng khoa Triết Đông của trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM).
Sinh thời Nguyễn Duy Cần viết khá nhiều sách, chủ yếu là sách biên khảo, nghệ thuật sống (lúc bấy giờ gọi là sách "học làm người") và Đạo học phương Đông. Những tác phẩm của ông được viết không nhằm mục đích "sống với câu chữ", mà đa phần do sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống. Ống cảm thấy những đề tài mình nên viết là những điều mà xã hội đang còn thiếu thốn và nhiều tầng lớp dân sinh đang mong đợi. Điều đáng tiếc là có nhiều tác phẩm của ông chưa được công bố, bị thất lạc hoặc chưa được hoàn thành. Mặc dù vậy, những tác phẩm đã xuất bản luôn được các thế hệ bạn đọc đón nhận và thường được tái bản nhiều lần. Bạn có thể biết đến ông qua các tác phẩm: Thanh Dạ Văn Chung, Cái Cười Của Thánh Nhân, Cái Dũng Của Thánh Nhân, Một Nghệ Thuật Sống, Tôi Tự Học, Óc Sáng Suốt, Thuật Tư Tưởng, Thuật Xử Thế Của Người Xưa, Thuật Yêu Đương, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Phật Học Tinh Hoa...
Tổng quan
Tinh hoa của Phật học không phải là chứng được hàng Chánh đẳng chánh giác; cũng không phải là người niệm niệm thực hành năng từ bi, đại hỷ xả; càng không phải thoát khỏi luân hồi, nhập cõi Niết Bàn. Tinh hoa của Phật học là Trung Đạo. Là thực hành cái tâm Vô Trước.
Đạo Phật không phải đọc vài trang kinh, tụng vài câu chú là có thể đắc Đạo. Đạo Phật cũng không phải mong cầu nhập Niết Bàn mà lo sợ luân hồi sinh tử, chán ghét cõi Ta Bà. Vậy như thế nào mới là Đạo Phật? Mời bạn cùng Fonos đi tìm câu trả lời, thông qua 3 nội dung chính của cuốn sách Phật Học Tinh Hoa của tác giả Nguyễn Duy Cần (hiệu là Thu Giang).
Nội dung thứ nhất: Những điều kiện tinh thần của người học Phật.
Phật ví chúng sinh và Phật như trái hồng. Vị chát vị ngọt tuỳ trái, nhưng chung quy cũng đều là trái hồng. Sự khác nhau nằm ở cái vị. Kinh Phật có viết rằng: "Nhữ thị đương thành Phật, ngã thị dĩ thành Phật" - Ngươi là Phật đang thành, ta là Phật đã thành. Phật và chúng sinh đều có tánh Phật. Vậy nên chúng sinh không cần đi đâu để cầu Phật Đạo. Bởi Phật tại tâm trung.
Nói chúng sinh và Phật đều có Phật tánh, nhưng Phật tánh nơi tâm chúng sinh như mặt trăng trong đêm mây mù. Dù Phật tánh có sở tại, nhưng đều đã bị vô minh che khuất. Vậy nên, muốn thành quả Phật, người học Phật cần phải vén đám mây vô minh ấy đi. Đây là một trong những điểm đặc biệt và quan trọng của Phật giáo - Mê là chúng sinh, ngộ là Phật.
Bởi Phật là chúng sinh, chúng sinh là Phật nên con người không cần phải đi cầu cạnh một ai để được cứu rỗi. Bản thân tự mỗi người sẽ cứu lấy được chính mình. Không tham muốn, không dục vọng, tự bản thân chúng ta sẽ tìm được cái toàn thiện toàn mỹ của chính mình.
Như Đức Phật, chỉ bản thân Ngài mới có thể tìm được Chân Lý cho mình. Và cũng chính vì tự mình mới tự giải thoát được cho mình, mà người học Phật cũng không nên lệ thuộc bất kỳ kinh sách nào, giáo lý nào.
Người học Phật cũng cần có óc hoài nghi. Nếu dễ dàng sùng tín, con người dễ dẫm lên những thành kiến xưa c��, dễ trở thành một người cố hữu, cực đoan. Cần phải hoài nghi tất cả những điều mà ta tin từ trước đến nay.
Có như vậy ta mới thực là ta. Ta mới nghe bằng tai của ta, thấy bằng mắt của ta, chứ không phải nghe và thấy bằng mắt của kẻ khác.
Nội dung thứ 2: Duyên sinh quan của Phật giáo.
"Kinh dạy rằng: Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà sinh ra. Cũng lại nói rằng: Rời bỏ nhân duyên ra, không còn có gì gọi là Ta." Có nghĩa là, tất cả sự vật không có sự nào, vật nào mà tự nó có tánh riêng cả. Những tánh ấy đều do nhân duyên hội lại mà coi như là có vậy.
Nhân là hạt, quả là trái, còn duyên là các thức như đất, nước, nắng, phân. Nhân và duyên hoà hợp sinh ra quả. Không có nhân thì dù cho duyên có đủ đầy như thế nào cũng không sao sinh ra quả. Ngược lại, không có duyên mà chỉ có nhân, thì dù cho nhân có mạnh có tốt đến mấy cũng khó lòng kết trái. Kinh Lăng Nghiêm có nói: "Nhân duyên hội hợp cùng nhau, thì mới có sinh ra hư vọng giả tướng; nhân duyên mà chia lìa, thì hư vọng giả tướng sẽ tan đi."
Nhân của cái này là quả của cái kia, và ngược lại quả của cái kia là nhân của cái này. Luôn luôn nối nhau không dứt. Không có cái nào là thực sinh, cũng không có cái nào mà thực diệt. Tất cả đều do duyên sinh. Có cũng do nhân duyên mà không cũng bởi nhân duyên vậy.
Nội dung thứ 3: Kinh điển Phật giáo và giáo lý Tiểu thừa - Đại thừa.
Suốt một đời thuyết Pháp, đức Thích Ca không chép lại một lời nào cả. Sau khi Phật nhập diệt, các vị tỳ khưu mới hợp nhau lại để tụng đọc những lời giảng cùng những việc làm của Phật tại thành Vương Xá. Nhưng đó cũng chỉ là một cuộc họp mặt và kể lại bằng lời chứ không được viết lại thành văn bản. Mãi cho đến khoảng ba trăm năm sau, đời vua A Dục và Ca Nị Sắc mới có cuộc kiết tập văn tự chính thức. Sau đó, Phật giáo bị Ấn Độ giáo và Hồi Giáo đàn áp nên bị suy thoái dần trên đất Ấn. Đạo Phật lúc này vượt khỏi biên giới Ấn Độ và lan sang các nước khác, phân chia ra hai hệ thống kinh điển là Bắc Tông và Nam Tông.
Về giáo lý, Phật giáo chia ra làm hai hệ thống là Tiểu thừa và Đại thừa. Giáo lý Tiểu thừa thực hiện chủ thuyết chư hành vô thường, chư pháp vô ngã và Niết Bàn tịch tịnh (gọi là Tam Pháp Ấn). Còn giáo lý Đại thừa đại để cũng giống như Tiểu thừa về mặt nhận thức, riêng về mặt bản thể thì Đại thừa đi sâu hơn và vượt ra khỏi phạm vi hiện tượng hơn Tiểu thừa.
Tiểu thừa thì tự độ, Đại thừa thì vừa tự độ vừa phổ độ chúng sinh. Tiểu thừa thì phá Ngã chấp, Đại thừa thì phá Ngã chấp lẫn Pháp chấp. Tiểu thừa đạt cái quả cuối cùng là La Hán, Đại thừa thì chứng quả Phật. Tiểu thừa trọng văn tự, câu chấp chữ nghĩa, văn bản, Đại thừa thì phóng khoáng tự do, bất chấp văn tự. Nhưng chung quy lại thì, tuy hai giáo lý khác nhau nhiều điểm nhưng không phân ra cái nào cao cái nào thấp. Vấn đề không nằm ở cái nào cao siêu cái nào tầm thường, mà nằm ở giai đoạn, thời kỳ. Điều đó có nghĩa rằng, giáo lý nào không quan trọng, nó chỉ phụ thuộc ở việc có phù hợp với người theo. cầu học hay không mà thôi.
Và dù là Đại thừa hay Tiểu thừa, thì tất cả cũng chỉ mong người theo Đạo được giải thoát, được diệt khổ. Tất cả đều có một thừa. Đó là Phật thừa.
Chúng sinh ta mê lầm trong cõi sinh tử, lặn ngụp trong cõi Ta Bà. Muốn nhập Niết Bàn không sao chứng được. Muốn đặng giải thoát khó mà như ý nguyện. Các giáo phái và các nền đạo ra đời chung quy là để giúp cho chúng sinh thoát khỏi bể trầm luân, diệt trừ khổ não. Cũng vì một lẽ là giúp chúng ta được an vui tịch tịnh. Do đó, đừng bài trừ một giáo lý nào và cũng đừng quá đề cao một nền đạo nào.
Để thoát khổ, chúng ta đừng chối bỏ nó, cũng đừng trốn chạy khỏi nó mà hãy chấp nhận và đối diện với nó. Có như vậy, ta mới có thể đạt được trí huệ Ba la mật. Niết Bàn không phải là một miền đất nào, không phải một hành tinh nào, cũng không phải một cõi hư vô nào. Niết Bàn chính là Phiền Não, Phiền Não chính là Niết Bàn. Niết Bàn tại trong tâm chúng ta.
Không ưa sướng ghét khổ, không thiên vị cũng không nghi kỵ bất cứ điều gì, thì đó mới là lúc đạt được trạng thái: Phật cũng là chúng sinh, chúng sinh cũng là Phật. Phật học không phải là một lý thuyết suông. Người học Phật cần phải năng thực hành giáo lý của Phật. Khi nào ta cảm thấy thân ta như hạt muối trong đại dương, ta mặn vì biển hay biển vì ta không còn phân định được nữa, là do biển có muối hay vì có muối nên mới gọi là biển cũng không còn quan trọng nữa; vì sinh tử luân hồi mới phiền não hay vì phiền não nên mới chìm trong bể luân hồi đều không thiết bàn tới nữa; đến lúc đó, ta mới thật sự hiểu được Phật giáo.
Phần giải thích thiện/ác theo đạo Phật có phần khiên cưỡng. Nói chung vẫn chưa hiểu Phật đã giải thoát được rồi, hiểu được vạn vật rồi mà còn "phổ độ chúng sinh" làm gì. Tự nhiên thì phải có chúng sinh, có chúng sinh thì phải có khổ có sướng. Cố thay đổi chúng sinh, cố diệt bánh xe luân hồi cũng như cố thay đổi tự nhiên, thay đổi cõi ta bà, chấp vào "phật tính" nhiều quá. Chỗ này đạo Phật khác đạo Lão.
Phàm cái gì phải dùng trực giác, thì tốt nhất là để trong tâm thanh sạch mà tự chứng. Biết được cách chứng, hay nghe người khác kể, học kinh nghiệm của người khác, đó là sợi dây kéo tâm ra xa bản ngã, càng khó tự chứng. Ông già vẫn hay nói "không kinh nghiệm nào giống kinh nghiệm nào" là vậy. Cho nên sách này hữu ích cho những ai thích biết mà không thích ngộ, thích hiểu mà không thích tu. Pha ấm trà, tụng cuốn sách xong rồi đi nhậu, cafe bốc phét. Còn ai thích tu tập thì không nên đọc. Thiền thì phát cho cái gối ngồi êm mông, rồi hít vào thở ra, định hay quán cũng được, tự chứng các cảnh giới awareness, mindfulness. Tịnh thì ráng lẩm nha lẩm nhẩm. Mật thì xách balo qua Tây Tạng học mật chú...
Đọc sách về Phật giáo do người Việt hoặc người Châu Á nói chung cảm thấy khó hiểu hơn của mấy tác giả Châu Âu. Có lẽ việc sử dụng các từ Hán Việt gây khó hình dung hơn là cách dịch từ tiếng gốc Latin. Sách chỉ rõ được những nét cơ bản, nhưng trình bày không được đơn giản cho lắm.
"Đạo Phật chỉ có thể được tìm thấy ở nơi không có Phật Giáo"
Đạo Phật luôn có một sức hút nhất định với mình, có lẽ là bởi hai lý do: thứ nhất là do việc các "lời dạy" của Phật khá là trùng với góc nhìn nhân sinh quan của bản thân mình, và thứ hai là việc mình luôn tò mò về cách mọi người "thờ phụng" các giáo điều Phật pháp ngày nay. Từ những cái việc căn bản như việc đi chùa cầu may cho tới những việc đao to búa lớn hơn như việc mời một thầy về để cúng bái cho nhà cửa, sự nghiệp được an khang thịnh vượng,... mình đều có thắc mắc rằng những điều này có thật sự phục vụ được mục đích nào không và quan trọng hơn là, Phật giáo có dạy chúng ta làm theo những điều như này và hi vọng rằng Phật sẽ cứu giúp chúng ta không?
Cụ Nguyễn Duy Cần (NDC) đã từ lâu được biết tới là một học giả đặc biệt xuất chúng của thế kỷ trước. Cuốn "Phật học tinh hoa" này theo mình là một cuốn sách nhập môn khá tốt cho những người bình thường muốn bắt đầu tìm hiểu về bản chất thực sự của Phật giáo (trong đó có cả mình). Phải nói rằng sau khi đọc cuốn này, mình đã được mở mang hơn rất nhiều về chủ đề Phật giáo, dù rằng không biết mọi điều được đưa ra trong cuốn này có đúng hết hay không? Phật đã dạy ta phải có "óc nghi ngờ", do vậy việc chắt lọc thông tin là vô cùng quan trọng, nhất là ở thời đại "bội thực thông tin" như ngày nay.
Thật thú vị khi nghĩ rằng, như đã nói ở trên, nơi ta tìm thấy tánh Phật lại chỉ xuất hiện ở nơi không hề có dính líu gì đến Phật giáo. Bản chất của đạo Phật chỉ có một mục đích: đó là giải thoát nhân loại khỏi sự khổ đau, để tiến tới Niết Bàn. Về mặt bản chất thì cụ NDC cho rằng, Phật giáo thực sự không thể được giải thích trên những giáo điều khô khan. Siddhartha Gautama đã từng là con người, và đã tự mình chiêm nghiệm và tỉnh Ngộ, thoát khỏi Vô Minh dưới gốc cây bồ đề mà đâu có dựa vào bất kỳ giáo điều đã được ghi chép sẵn nào đâu. "Tính Phật" thực sự tồn tại ở bất kỳ cá thể chúng sinh nào, do vậy bất kỳ ai cũng có khả năng tiến tới cõi Niết Bàn. Bản thân chúng ta đều là Phật; Phật chỉ là một trạng thái thể hiện việc đã giác ngộ chân lý tối thượng mà thôi. Và thực sự thì chân lý này cũng không thể nào được gói gọn trong bất cứ hình thức giáo điều bí hiểm nào, vì cái mà ta gọi là "chân lý" thực sự cũng chỉ có thể được tìm thấy bởi chính bản thân ta. Ta phải là người tự chiêm nghiệm được cái chân lý này. Phật giáo do vậy có thể được coi là một thứ học thuyết mà không có chủ thuyết, một giáo lý không có giáo điều, một tôn giáo không có giáo chủ; tất yếu chỉ là một người mở đường dẫn lối, hướng dẫn chúng sinh để chúng sinh tự mình tìm thấy con đường thoát khỏi khổ đau mà thôi.
Còn rất nhiều điều để đàm đạo về chủ đề này, tuy nhiên mình cũng lo rằng dưới khuôn khổ giới hạn của một bài review sách chỉ có mình đọc :D thì có lẽ nên để mọi người tự đọc tự chiêm nghiệm thì hay hơn. Đạo Phật không khuyến khích giáo điều và các hệ thống phân cấp thứ bậc như các tôn giáo khác, không đề cao cũng như không hạ thấp bất cứ một tư tưởng nào, không có Thiện, Ác, Thị, Phi; tất cả mọi việc đều hướng về Trung Đạo. Chấp nhận vòng chảy luân hồi thì mới có thể thoát được khỏi vòng chảy luân hồi, nhìn nhận cuộc đời này dưới nhãn quan của một Trí Tuệ Bát Nhã - khi mà khẳng định vừa là phủ định mà phủ định cũng là khẳng định; khi mà Thiện cũng có thể Ác mà Ác cũng chính là Thiện; khi mà hiểu được thế nào là Vô Niệm, Vô Tướng và Vô Trụ - thì may ra, chúng sinh mới có thể tiến tới Bồ Tát.
Mình chấm cuốn n ày 4/5. Có lẽ cần phải đọc lại thêm vài lần nữa thì mới thẩm thấu được cái tinh túy mà cụ NDC đã tổng hợp và chắt chiu một cách cô đọng và dễ hiểu cho độc giả chúng ta.
Để viết một cuốn sách giản lược một cách tối đa về Đạo Phật, tác giả (Cụ Thu Giang - Nguyễn Duy Cần) cho thấy là một người rất am hiểu về Đạo (Phật và Lão, v.v..). Thật không đơn giản để có thể đọc và hiểu được tác phẩm này cho những ai chưa hiểu căn bản về Đạo Phật. Đạo Phật không hề nêu lên một “Đấng Tạo Hoá” và cũng không chủ trương nương nhờ vào danh hiệu một vị Phật nào để mưu cầu những thứ vật chất đến làm thoả mãn nhu cầu của bản thân (Dục Vọng), mà Phật ở đây là Phật Tánh trong mỗi con người và các loài hữu tình cũng có Phật Tánh.
Mình khuyên những bạn trẻ, những bạn Phật Tử những ai ham đọc sách hãy đọc và tìm hiểu tác phẩm này, để: Thứ nhất: Cải thiện bản thân để trở thành người tốt hơn, ít nhất sống đúng với quan điểm nhà Phật. Ai sống cũng nhất thiết cần có Đạo Lý. Thứ hai: Để tránh gây hiểu lầm và sa vào mê tín dị đoan, làm ô uế Đạo Phật trong nhãn quan của những người ‘ngoại đạo’. Ngoài ra, những bạn ‘ngoại đạo’ cũng có thể đọc và học được nhiều điều có thể giúp ích trong đời sống gia đình và xã hội, biết trân quý giữ gìn môi sinh và quan trọng nhất tránh những thành kiến sai lầm về Đạo Phật (Đạo Phật đối với người tu đúng và hiểu đúng là không phân biệt người là Phật Tử hay người ngoại đạo). Một quyển sách mỏng nhưng mình đã liên tục đặt sách xuống và suy ngẫm rất nhiều qua mỗi câu mỗi ý đọc được. Tuy nhiên có vài quan điểm riêng của tác giả hơi mâu thuẫn làm mình hơi bối rối tuy nhiên xét kỹ thì ta cũng không nên chấp vào câu từ hay quan điểm của tác giả mà nên cởi mở để tiếp nhận thêm những quan điểm tư duy ở khía cạnh khác chẳng hạn để có cái nhìn bao quá hơn về ý của tác giả.
Recommend bộ sách căn bản cho những bạn Phật Tử tìm hiểu về Đạo: Bộ Phật Học Phổ Thông của HT Thích Thiện Hoa (3 cuốn)
Những câu nói truyển cảm hứng trong sách:
‘Đạo mà nói ra được thì không phải là Đạo’
‘Tri giả, vô ngôn Ngôn giả, vô tri’.
‘Đạo dành cho những ai có ‘tai’ thì nghe’
This entire review has been hidden because of spoilers.
Một thời gian dài mình chưa đọc hoàn thiện một quyển sách nào và đợt này quyết định đọc thêm một cuốn của Cụ Nguyễn Duy Cần, tác giả yêu thích của mình để khởi động lại quá trình đọc sách. Mình đã học thêm được rất nhiều điều về Phật học.
Có lẽ không riêng gì Phật học mà các Đạo học (tôn giáo) khác cũng có nhiều phiên bản ghi chép khác nhau do quá trình thuyết giảng, truyền bá qua các vùng miền và qua thời gian. Trước đây khi mà Đạo Hồi nổi lên với nhiều tranh cãi, đặc biệt sau những cuộc khủng bố của tổ chức Al-Qaeda và là cái cớ cho những cuộc đàn áp, xâm chiếm của các nước phương Tây lên các nước Hồi giáo thì mình có tìm đọc kinh Qur'an. Nhưng có quá nhiều bản dịch khác nhau và khi đọc các phê bình về bản dịch mình càng thấy rối trong việc nên chọn bản dịch của dịch giả nào. Không những vậy, việc phân tích ý nghĩa của các lời dạy trong Qur'an cũng có rất nhiều nguồn khác nhau. Thiết nghĩ, sự học quả là vô bờ bến. Những người mà chỉ cóp nhặt đâu đó một vài câu và được cho rằng trong kinh Qur'an, sau đó đem ra mổ xẻ, chỉ trích và phỉ bám quả là vô minh. Nhớ lại một câu trong cuốn "Tôi tự học" của tác giả: Một nhà phê bình trứ danh có nói: "Hãy đưa cho tôi một vài hàng chữ của người nào, tôi sẽ làm cho hắn bị xử giảo cho xem".
Có rất nhiều từ Hán Việt mà mình không hiểu nghĩa và tra cứu google cũng không tìm được kết quả mong muốn. Phải học thêm nữa để đọc lại và tìm hiểu về Phật học.
Đây là một cuốn sách nói rất khái quát về Phật giáo, tông phái và những lý luận của họ. Cuốn sách đã khai sáng cho mình khá nhiều và đồng thời cũng giải đáp những khúc mắc về sự khác biệt của Đại thừa và Tiểu thừa dù chung một gốc. Hóa ra không có sự sai biệt nào, không có đường nào là sai, chỉ là từng người mà có từng con đường đúng đắn riêng của mình, tất cả đều đến cái đích chung là giải thoát. Cuốn sách này chắc chắn sẽ là tiền đề vững chắc để tìm hiểu sâu hơn về Phật giáo và Triết học Phương Đông. Tác giả cũng khuyến khích việc tự suy nghĩ và phản biện trong quá trình tu tập. Nhưng cũng đôi chỗ trong quyển sách, tác giả lại dẫn nguyên ý mà không bình luận gì nhiều làm cho mất mạch tự sự, đặc biệt khá khó đọc ở đoạn giữa. Nhìn chung đây là một cuốn sách tổng hợp đầy đủ những đại ý của Phật giáo nhưng dù gì thì nó cũng chỉ là ý kiến chủ quan của tác giả nên có đôi chỗ mình cho là chưa hợp lý, hoặc nói cách khác là chưa đủ làm cho mình hài lòng. Có cần gì phải mang nhãn hiệu Phật mới là Phật. Có cần gì phải mang nhãn hiệu Phật giáo mới nói lên được những lời nói của Phật Câu nói này làm mình vững tin hơn khi đi trên con đường của chính mình, có thể tiệm cận, cắt nhau tại một thời điểm nào đó với những con đường khác nhưng nó là con đường duy nhất, dành cho mình, đồng thời cũng thể hiện sự biến chuyển tâm lý, suy nghĩ của mình theo thời gian.
Một cuốn sách nói về những điều cốt yếu ở trong đạo Phật, từ lịch sử đến những giáo lí căn bản cũng như điều khác biệt của Tiểu thừa và Đại thừa. Chi tiết hơn nữa là về nhân duyên quán, bình đẳng quan, nhất như luận và cả niết bàn. Trong sách nói khá ít về Tứ diệu đế và không hề nói về Bát chính đạo, nhưng có nói về những phương thức tu hành nữa nha.
Sách hợp với những người muốn tìm hiểu về Phật giáo cũng như có những thắc mắc về tôn giáo này (vì sao có nhiều tông phái, Phật giáo là triết học hay là tôn giáo, tu có nhất thiết phải buông bỏ hết để thoát tục không, tâm sai biệt là gì). Bên cạnh đó những ai đã biết về đạo Phật cũng có thể biết thêm về tinh thần của người học đạo. Sách này không phải là kinh và không giải nghĩa chi tiết kinh kệ.
Dù sách nào có nói gì đi chăng nữa, người đọc cũng không nên chấp trước vào câu chữ, "có ý rồi hãy quên lời đi". Thêm đó cần kinh nghiệm thực chứng cùng với sự hoài nghi, nhưng KHIÊM TỐN nha, và đừng mặc cảm 😅 Đọc xong mọi người sẽ thấy vạn sự đều có Phật tính đó 😌 ( Nhưng bất kì ai tự hỏi mình có Phật tính hay không thì câu trả lời là KHÔNG 🙂 )
"Thấy cái tướng mà không hiểu cái thể, gọi là mê. Rõ cái thể mà không biết cái tướng, cũng không gọi là tỉnh."
Hay~~ Đối với ai muốn tìm hiểu giáo lý nhà Phật, mà thấy đọc kinh điển dài và khó hiểu....thì cuốn này là một nguồn tóm gọn khá hay. Như tựa sách tác giả có ghi, đây là "Phật học", chứ không phải "Phật giáo", cuốn sách này được tác giả chú trọng vào phần lý thuyết cốt lõi được tóm lược thành cuốn sách với độ dài chuẩn của một cuốn sách, chứ không có quá dài...Bản thân mình có so sánh ý của tác giả với những bài giảng của các bậc thiền sư: Minh Niệm, Ajahn Chah, thì mình thấy những ý tứ được tác giả đề cập theo sát, đúng mực. Đây là cuốn sách thiêng về triết học(mình nghĩ vậy) nên sẽ có vài phân đoạn khó hiểu, đặc biệt khó hiểu nếu các bạn chân ướt chân ráo tìm hiểu đạo Phật, mình khuyên nên bắt đầu với những bài giảng của thầy Minh Niệm, quyển "Hiểu về trái tim" để làm quen với ngôn từ Phật giáo trước khi đụng đến cuốn sách này
Ở chương đầu tiên, Thu Giang đã giới thiệu sơ lược nhưng vẫn đủ những sự kiện chính trong cuộc đời của Đức Phật. Ông đã cho độc giả thấy rằng Phật cũng giản dị, cũng gần gũi với chúng ta. Nếu có khác biệt, có chăng chỉ là ở tư tưởng truy cầu sự giác ngộ mà thôi. Sang những chương tiếp theo, thầy Thu Giang lần lược giải thích những ngộ nhận của thế nhân về Phật giáo, những quan niệm cơ bản của đạo Phật nói chung và những tông chi Phật giáo nói riêng......và còn rất nhiều chi tiết khác mà người học Phật cần hiểu được. Tựu trung lại, những kiến thức trong đây không quá nặng nề về mặt lý thuyết nên rất phù hợp với những ai mới bắt đầu tìm hiểu Phật giáo. P/s: Tác giả có phần thiên về Phật giáo Đại thừa nên người đọc cần phải chú ý câu từ diễn giải của tác giả về các tông chi Phật giáo khác. Tránh vì không hiểu dụng ý của tác giả mà rơi vào tư tưởng nhị nguyên.
Có thể chia cuốn sách ra làm 2 phần: - Nửa đầu: Giới thiệu tổng quan về lịch sử và một số khái niệm - Nửa sau: Đi sâu hơn vào các khái niệm (concept) trong đạo Phật. Có thể nói phần đầu tương đối dễ hiểu và thậm chí là khai sáng (enlightening) vì làm rõ một số khác biệt trong quan niệm của các dòng khác nhau (Đại Thừa vs. Tiểu Thừa, v.v.) và một số quan niệm mà số đông hay hiểu sai. Tuy nhiên phần sau với một loạt các diễn giải khái niệm không mà có, có mà không, v.v., sử dụng sự kết hợp giữa tiếng Phạn, từ Hán Việt và tiếng Việt (thậm chí đôi chỗ có cả tiếng Pháp) khiến cho người đọc cảm thấy bị... thử thách. Có lẽ tác phẩm này nên được tìm đến sau khi người đọc đã tham khảo một số tài liệu đại chúng và dễ đọc, dễ hiểu hơn.
Đây là một cuốn sách khá khó nhằn hardcore đối với mình. Nó thiên về triết học và các kiến thức cũng khá khô khan, từ ngữ đôi khi cũng hơi khó hiểu, nói chung không thể hiểu ngay được. Cuốn này phân tích một góc nhìn khách quan về Phật giáo. Phật Giáo không chỉ là là một tôn giáo, tín ngưỡng mà là một công trình thuộc triết học. Mở ra cho mình rất nhiều kiến thức tư căn bản nguyên do nhất, như tiểu thừa và đại thừa, các thuyết trong Phật giáo.... càng tìm hiểu sâu thì càng thấy mình vẫn chưa đủ cơ duyên để theo đuổi tôn giáo này. Vào thời điểm này thì thực sự chưa đủ lực, chưa đủ duyên, chưa đủ khả năng... Nếu mọi người cần tìm hiểu về Phật giáo, hiểu sâu hơn nữa thì nên chọn cuốn này để nghiền ngẫm nhé. Khá ổn để dành cho não mình vận động.
Sách của cụ Thu Giang thì mình không có dám review, nhưng đối với mình đây là cuốn hay nhất của cụ mà mình đã đọc. Chắc chắn sẽ là sách gối đầu giường của mình, vì cần được đọc đi đọc lại để hiểu hết mọi điều.
"... Kẻ đạo đức tốt, cũng như người xấu xa đầy tật xấu đều không ai gần Chân Lý cả. Gần Chân Lý là kẻ đã vượt thoát khỏi cả hai. Đừng tìm cách để mà tạo cho mình những đức tốt, mà phải tìm cho ra cái nguyên nhân của sự phân chia, tức là cái ngã thức... Đừng lấy cái đức tốt này mà đả phá cái tật xấu kia (nghĩa là đừng dùng một trong cặp mâu thuẫn Thiện Ác để chết trí lẫn nhau), cũng đừng tìm cách lập lại quân bình giữa hai cái mâu thuẫn ấy, vì làm thế thì làm cho bên đối phương cũng mạnh thêm lên."
Một cuốn sách rất hay, đem lại một cái nhìn bao quát về Phật học. "Đạo Phật là một triết học không triết lý, một tôn giáo không có giáo điều". Tất cả mọi thứ (vạn pháp) đều là do nhân duyên hợp lại mà hiện ra, chứ vốn không có thật tướng.
Một điều tác giả giải thích rất hay, đó là con người thường quá chấp vào tư duy nhị nguyên, và hay nghĩ rằng có "tốt" có "xấu", có "trắng" có "đen", có "thị - phi" "thiện ác". Bởi vì chấp vào nhị nguyên như thế, con người ta cứ mãi cố theo đuổi cái tốt và từ bỏ cái xấu đi, mà không hề biết rằng tất cả đều là một.
Từ góc nhìn Phật giáo, điều này có nghĩa là sao? Có nghĩa là "chân như tức vạn pháp", "sinh tử tức niết bàn", và "phiền não tức bồ đề". Còn muốn thoát khỏi sinh tử và vào cõi niết bàn thì sẽ không bao giờ vào niết bàn hay giác ngộ được.
Tại sao lại thế? Bởi vì cứu cánh của đạo Phật là được giải thoát, được tự do khỏi những nhu cầu của bản ngã. Còn muốn giác ngộ, còn muốn giải thoát, nghĩa là lòng còn ham muốn, còn sợ hãi, và thế là sẽ không bao giờ tới được niết bàn mà chỉ đơn giản là đang muốn cái ngã của mình được bảo vệ và sống sung sướng, hạnh phúc mà thôi. Trong khi với đạo Phật, cái cảnh giới vô dục, vô cầu, vô niệm, không bám chấp, mới là điều quan trọng nhất.
Về vấn đề này, tác giả có giải thích thêm một ý rất hay về việc trì giới và bố thí. Tâm lý người ta khi trì giới và bố thí là vì mong muốn mình được nhân quả tốt đẹp, muốn mình được sống hạnh phúc, hoặc muốn kiếp sau được đầu thai làm người chứ không phải súc sanh, ngạ quỷ. Trì giới như vậy vẫn chưa phải là trì giới, bố thí như vậy vẫn chưa phải là tu. Vì dù rằng khi ta làm những việc thiện thì các nghiệp thiện sẽ từ đó được tạo ra, nhưng chung quy ta vẫn còn nghiệp và vẫn vướng mắc trong sinh tử luân hồi. "Cái xích bằng sắt (ác nghiệp) hay bằng vàng (thiện nghiệp) thì cũng đều là bị xích" (lời của tác giả mà mình không nhớ rõ).
Kết hợp với cái ý vô dục vô cầu ở trên, cách trì giới và bố thí tốt nhất chính là như Bồ Tát trì giới và bố thí. Bồ Tát bố thí vì phải bố thí, hay vì không thể không bố thí. Bồ Tát trì giới vì Bồ Tát phài trì giới, hay vì không thể không trì giới. Đó là những hành động rất tự nhiên, không phải là những hành động ích kỷ xuất phát từ bản ngã (đoạn này thì chúng ta có thể quán - chánh niệm - xem xét suy nghĩ của chúng ta để tự biết bản thân chúng ta đang nghĩ gì). Bồ Tát khi làm một việc gì đó đều rất từ nhiên, và xuất phát từ lòng từ bi với chúng sanh, muốn cứu chúng sanh khỏi khổ ách chứ không phải muốn bản thân được quả báo luân hồi tốt đẹp. Nam mô A di đà Phật.
Về trì giới, tác giả lại nêu lên một ý rất hay, đó là các luật lệ về ban đầu là cần thiết, nhưng càng về sau sẽ ngăn cản sự phát triển của cá nhân nếu như cá nhân đó cứ bám chấp vào luật lệ. Giống như vỏ trứng gà cứng rắn để bảo vệ gà con, nhưng khi gà con đã l��n lên thì phải phá bỏ và thoát ra khỏi vỏ trứng đó. Vỏ trứng từ vật bảo vệ đã trở thành chướng ngại, và gà con cần phải phá bỏ đi để tiếp tục sự sống của mình.
Và tại sao quá nhiều luật lệ thì sẽ không tốt? Bởi vì khi ta có quá nhiều luật lệ, giáo điều, ta đã vạch một làn ranh giới giữa thiện - ác, tốt - xấu, thị - phị, rằng ta phải tuân theo luật lệ này, nếu không ta chỉ là người xấu mà thôi. Điều này làm cho người ta càng mù mờ trong thế giới nhị nguyên và làm cho họ cảm thấy bị áp bức, vì họ có những tính cách/xu hướng mà nếu bộc lộ ra sẽ bị đánh giá là xấu. Theo tâm lý học phân tích (Analytical psychology) của Carl Jung thì sự áp bức (suppression) thay vì soi sáng vào vô thức này (make the unconscious conscious) sẽ khiến cho cuộc sống người đó không được trọn vẹn, mà nhiều lúc còn tác động xấu đến người xung quanh.
Cho nên, về luật lệ và trì giới, chúng là những phương tiện cần thiết để xây dựng thói quen và nề nếp lúc ban đầu, nhưng sau khi đã có tiến bộ rồi thì phải vứt bỏ nó đi. Ta có thể vẫn trì giới, vẫn giữ luật lệ, nhưng ta làm những việc đó thật tự nhiên, không chấp trước, vô dục vô cầu, và không hề nghĩ rằng ta đang làm những việc thế này để cuộc sống của ta tốt hơn, hay là để ta có thể lên được Niết Bàn. A di đà Phật! (Việc chấp vào các giới cũng như việc chấp vào văn tự, như Phật kể có người dùng đò để sang sông, nhưng khi qua được sông rồi không vứt cái đò đi hay để cho người khác dùng mà cứ khư khư đội lên đầu, không phải là buồn cười lắm sao?)
Ngoài vấn đề vô dục, vô cầu mà mình vừa nói dài ngoằn ở trên =), còn một điều nữa mà tại sao chúng ta cứ muốn vào niết bàn thì sẽ không bao giờ vào niết bàn, còn muốn giác ngộ thì sẽ không bao giờ giác ngộ. Đoạn này mình cũng chưa hiểu lắm, nhưng đại ý là bản chất của thế giới này vốn là "không" (the void), nhưng chúng ta tự tạo những khái niệm bằng ngôn ngữ và áp đặt lên thế giới này, và chúng ta cứ nhìn nhận mọi thứ theo những danh từ nhị nguyên "sắc" (the form - maya) đó mà thôi. Nên là, mục đích vốn là từ bỏ những cái "form", chúng ta lại vô tình theo đuổi một cái "form" khác là niết bàn. Như một vòng luẩn quẩn. Hay nói như Alan Watts trong cuốn "The Art of Zen", ta đang bị ghim bởi một cái gai là vô minh, và thay vì dùng một cái gai khác là thiền (Zen) hay Phật pháp để rút cái gai đó ra, ta lại đâm nốt cái gai đó vào người ta nữa. Vô minh nhân đôi =))
Trong sách, tác giả còn nói về nhiều vấn đề nữa, như cuộc đời Đức Phật, ngũ thời thuyết pháp, các tông phái Phật học, thập nhị nhân duyên, các thức, thập mục ngưu đồ, các cách tu tập, hay thậm chí phần về trí tuệ Bát Nhã cũng rất hay. Nhưng mình viết cũng đã dài rồi, và có lẽ các bạn tự đọc sẽ thấy hay hơn. =)) Chúc các bạn sẽ kiếm được những điều hay ho từ cuốn sách mỏng này.
This entire review has been hidden because of spoilers.
- Tác phẩm có phần viết về lịch sử Phật giáo ngắn gọn cùng với hệ thống các kinh kệ rất có giá trị để tham khảo và tìm hiểu sâu - Một góc nhìn Phật học, triết học nhiều hơn là tôn giáo - Phần tác giả viết về Duyên sinh quan, bình đẳng quan, trí huệ bát nhã khá khó đọc => nghiên cứu thêm - Chương "Niết bàn" tác giả viết rất hay, phân tích về quan niệm Niết Bàn qua góc nhìn Tiểu Thừa, Đại Thừa nhưng không có sự phân lớn nhỏ - Phần phụ lục về "thiện ác" tác giả phân tích rất hay, đưa ra một góc nhìn trung đạo về Phật học, tránh sai lệch theo pháp tu thiện nghiệp của phần đông mọi người
Từ một lời khuyên trong quyển sách: "Chỉ có tuỳ theo luật của thiên nhiên, mới có thể trị nổi thiên nhiên và thoát khỏi thiên nhiên mà thôi, chứ không thể bất chấp luật thiên nhiên mà chống nổi với thiên nhiên." Thực hành lời khuyên trên thì cũng là tạm đủ thực hiện tu tập theo tinh thần của Phật học Đại thừa. Người tu tập thực hành cũng không cần phải biết các pháp môn là gì, thuật ngữ trong Phật học là gì, đọc kinh và giữ giới luật ra sao.
Tóm tắt là sách giới thiệu cơ bản về lịch sử và các khái niệm căn yếu của Phật giáo.
Vô tình đọc được đoạn này, hợp với hoàn cảnh và khích lệ tinh thần mình rất nhiều nên ghi lại: "Sự có mặt của một kẻ thù luôn luôn tìm đủ mọi phương thế để xoi bói và chỉ trích là một điều rất hay để bắt buộc mình bao giờ cũng tìm cách cải tiến hầu đi lần đến chỗ chí thiện chí mỹ. Là vì sự phê phán của những kẻ thù ta, giúp cho ta thấy rõ hơn những sở đoản của ta hơn là những người bạn đồng tâm đồng chí. Cho nên thay vì tiêu diệt người thù, khôn ngoan hơn là nên giữ gìn họ để được nghe những lời chống đối về những sơ hở của mình và kiềm hãm lòng tự tôn tự phụ."
Năm 1965 trong hoàn cảnh đất nước như vậy mà cụ Cần viết được cuốn này phải nói là rất đáng quý. Rất thích câu Phật dạy mà tôi đã tìm thấy trong cuốn sách này, đừng ai tin ở Phật cả, không tin ở những người quyền cao chức trọng bởi vì lời của họ phải kiểm chứng, không tin ở truyền thống vì truyền thống có mặt tốt và mặt xấu.
Rất cám ơn cụ Nguyễn Duy Cần đã viết nên cuốn này vì sách đã giúp mình hiểu hơn về hệ thống Phật giáo cũng như kinh điển căn bản. Tuy nhiên, thật sự đây là môt cuốn khó đọc vì có quá nhiều từ Hán Việt
Tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng thể hơn về Phật học (chứ không phải về Phật giáo nhé) trước khi bị phân thành phái này phái nọ, hoặc bị che mờ bởi những giáo lý, phép tắc sau này. Tam giáo đồng nguyên, lên đến cái học hình nhi thượng thì Lão, Thích, Khổng đều có chung một nguồn.
Cụ Thu Giang thừa đủ kiến thức và khả năng sư phạm để trình bày những luận thuyết Phật pháp một cách dễ nghe nhất đến độc giả. Nếu bạn học Phật mà chưa biết cách hệ thống sao cho dễ hiểu, hãy đọc quyển sách này của cụ.
Sau khi đọc sách này mình hiểu rõ hơn về các trường phái, quan điểm tu tập trong Phât Giáo. Tác giả nghiên cứu rất kỹ và sâu sắc để người đọc có thể tiếp cận dễ dàng, giải thích các thắc mắc về Tiểu Thừa và Đại Thừa. Cần đọc và ngẫm nghiệm nhiều làn về sau…
.Về quyển PHẬT HỌC TINH HOA chủ yếu nói về triết gì đấy ko có hiểu gì hết cả. Cái gì mà vô ngã với chân ngã loạn hết cả đầu luôn nên chỉ có một câu duy nhất kết luận cái quyển này là: quá khó hiểu với mình và nó cx hơi khô khan...
Đoạn đầu rất hay, giúp mình hiểu hơn về tư tưởng Phật giáo, nhân duyên và các vị bồ tát, tuy nhiên các đoạn sau nói về các kiến thức chuyên sâu trong Phật giáo, khá khó đọc và gần như mình không hiểu gì mấy. Có lẽ mình sẽ đọc lại sau khi tìm hiểu được nhiều hơn.