Jump to ratings and reviews
Rate this book

Currency Wars #5

Война валют

Rate this book
Книга «Война валют» раскрывает секреты мирового богатства, разоблачает аферистские схемы в системе международных финансов, рассказывает о ранее неизвестных исторических фактах. Кто в действительности самый богатый в мире? У кого в руках находятся федеральные резервы США? Остался ли кризис позади или же мы приближаемся к его новому витку? Автор дает ответы на эти и множество других вопросов, связанных с финансами в международной сфере, помогает глубоко проникнуть в сущность экономических явлений и выстроить их в единую логическую структуру.

527 pages, Hardcover

First published January 1, 2014

5 people are currently reading
87 people want to read

About the author

宋鸿兵

10 books6 followers
宋鸿兵,国际金融学者,世界金融历史学者,20世纪90年代初赴美留学,主修信息工程和教育学,获美利坚大学(American University)硕士学位。长期关注和研究美国历史和世界金融史。曾在美国媒体游说公司、医疗业、电信业、信息安全、联邦政府和著名金融机构供职。近年来,作者曾担任美国最大的非银行类金融机构房利美(Fannie Mae)和房地美(Freddie Mac)的高级咨询顾问,主要从事房地产贷款自动审核系统设计,金融衍生工具的税务计算分析,MBS(资产抵押债券)的风险评估等方面的工作。

宋鸿兵著有《货币战争》系列丛书,长期高居中国财经图书畅销榜榜首。宋鸿兵因在书中成功预测了2007年美国次贷危机和2008年全球金融海啸而备受关注,在国内和国际上引起了巨大反响,曾被世界30多个国家和地区的媒体广泛报道,2009年宋鸿兵被全球销量第一的美国《商业周刊》评为“中国最具影响力的40人”。2010年之后,宋鸿兵首创的“货币战争”一词已成为世界各国政要和媒体普遍使用的国际热门用语,最早提出的“剪羊毛”、“次贷地震”、“金融海啸”、“金融高边疆”、“中国大妈”等词汇皆成社会流行词汇。《货币战争》系列丛书已被翻译成韩语、日语、法语、波兰语、越南语、繁体字等多种语种持续畅销海外。

宋鸿兵现担任宏源证券首席国际金融战略分析师,结构融资部总经理。拥有中国黄金高级分析师资格,成功发行国内券商中第一只黄金信托基金“金宏源一号”,并为宏源证券争得著名央企企业债券主承销商资格。2009年参与创办新型独立全球战略智库一环球财经研究院。2009年7月,参与筹备中国“超级智库”中国国际经济交流中心(CCIEE)举办的“全球智库峰会”,并成功承办“全球储蓄消费与金融安全”分论坛的“金融安全”专题。2008年以来担任多所大学客座教授。

Ratings & Reviews

What do you think?
Rate this book

Friends & Following

Create a free account to discover what your friends think of this book!

Community Reviews

5 stars
11 (45%)
4 stars
10 (41%)
3 stars
1 (4%)
2 stars
0 (0%)
1 star
2 (8%)
Displaying 1 - 3 of 3 reviews
Profile Image for Liên Phương.
134 reviews5 followers
September 15, 2025
Chương 1: Tiễn vàng lên "Đoạn đầu đài" bắt đầu cuộc chiến bảo vệ đồng đô la
-Ngân hàng Thuỵ Sĩ thực ra là sân sau của Đức, do Đức bảo kê thành lập. Nhưng cuối cùng Thuỵ Sĩ lại như nhà xưởng sản xuất vàng cho London kinh doanh kiếm lợi.
-Năm 2000, với mong muốn tách tiền tệ ra khỏi đồng đôla mà thay vào đó là đồng Euro, Saddam của Iraq đã đơn thườn độc mã gây chiến với Mỹ khi tuyên bố dầu xuất khẩu chỉ nhận thanh toán bằng Euro. Điều này có thể là một trong những nguyên nhân khiến chiến tranh Iraq nổ ra.
-Có bằng chứng cho thấy vàng của Mỹ và các quốc gia khác gửi ở Cục dự trữ liên bang Mỹ đã "bốc hơi". Việc Đức nhất quyết yêu cầu mang vàng từ Mỹ về Đức năm 2013 được cho là sự ngờ vực giữa các ngân hàng trung ương.
-12/4/2013 đứng trước việc các quốc gia khác và người dân đồng loạt yêu cầu rút vàng vật chất do mất niềm tin vào Cục dữ trữ liên bang Mỹ đã khiến Chính Phủ Mỹ phải ra kế sách hạ giá vàng vật chất để người dân hoảng loạn mà dự trữ tiền/tài sản khác thay vì vàng vật chất. Tuy nhiên điều Mỹ k thể ngờ tới là khi vàng rớt giá không phanh thì dân TQ, châu Á và các nước mới nổi lại tức tốc lao ra đường để mua vàng. Kế hoạch của Mỹ thất bại.

Chương 2: Đường hầm thực sự, xuyên qua không gian của bong bóng
-Lợi dụng chính sách QE3 của Mỹ về chính sách vay lãi suất thấp (khoảng 1,5%), các Công ty níu kéo chỉ số trên báo cáo tài chính bằng cách vay nợ rồi mua lại cổ phiếu đã phát hành đồng thời truyền thông ra công chúng là cổ phiếu của họ trên thị trường quá rẻ nên muốn mua lại. => Hiệu ứng trong dân chúng tưởng cổ phiếu rẻ thật nên mua đầu tư, kích thích cổ phiếu tăng trưởng trở lại. Đồng thời, lãi vay sẽ được khấu trừ thuế còn cổ tức sẽ được trả cho các CEO nắm giữ cổ phiếu mua tạo chính sách cho các công ty giữ nhân sự. Đó là lý do tại sao QE3 như máy thở oxy cho nền kinh tế nhưng Mỹ không dám phá bỏ. Vì nếu bỏ làm lãi suất vay tăng trở lại thì kéo theo thị trường chứng khoán sụp đổ và nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng theo.

Chương 3: "Thiếu tiền" trầm trọng, những cái bóng mộng du chìm trong cơn cuồng hoan
-Ngân hàng: Khi khách hàng đến vay tiền ngân hàng, khoản cấp tín dụng được tính là tài sản của ngân hàng (mặc dù tiền cho vay huy động từ dân chúng). Do đó, tài sản (tiền) của ngân hàng bỗng gia tăng mà tài sản thực thì không tăng. (cái này chắc phải học thêm báo cáo tài chính ngân hàng thì mới rõ được).
-Quỹ huy động: Dùng tiền huy động để đầu tư vào trái phiếu. Sử dụng trái phiếu này để vay vốn và tiếp tục đầu tư. Mặc dù tài sản thực chỉ có 1 đồng vốn ban đầu nhưng bảng cân đối kế toán là nhiều hơn 1 đồng (vốn ban đầu + trái phiếu đã đầu tư + tài sản tiếp tục đầu tư từ vốn vay,...) tạo nên giá trị ảo.

Chương 4: Núi lửa lãi suất, ngày phát xét cuối cùng
-Libor: hệ thống ghi nhận tiêu chuẩn lãi suất do hiệp hội ngân hàng các nước tham dự. Theo đó trong ngày các ngân hàng sẽ báo mức lãi suất mà họ chấp nhận lên Libor. Libor sẽ trừ các giá thấp nhất và cao nhất rồi tính lãi suất trung bình để công bố lúc 11h mỗi ngày (giờ London) để làm lãi suất tiêu chuẩn của ngày hôm đó. Tuy nhiên, lãi suất mà mỗi ngân hàng báo lên đều định tính thiếu cơ sở, đồng thời cũng có sự thông đồng lẫn nhau giữa các ngân hàng để đưa ra mức lãi suất phù hợp với nhu cầu của các ngân hàng đó. => Tạo ra sự bất công đối với lãi suất tiêu chuẩn. Sau khị bị điều tra và phanh phui vì hành vi gian lận, thiếu công bằng, Libor đã bị bãi bỏ vào cuối năm 2023.

Chương 5: Sóng gió nổi lên, giới đầu cơ bất động sản phố Wall ráo riết hành động
-Sau khủng hoảng tài chính năm 2008, khi suy thoái kinh tế kéo dài và tỷ lệ thất nghiệp tăng, hàng loạt khoản vay được thế chấp bằng BĐS không trả được nợ, buộc ngân hàng phải tiến hành tịch thu BĐS, bán đấu giá để thu hồi nợ. Tuy nhiên, do nền kinh tế không mấy tốt đẹp nên tiềm năng có người mua BĐS vô cùng thấp. Đồng thời, dân vẫn tin rằng giá BĐS sẽ tiếp tục giảm nên chần chừ trong việc mua BĐS.
-Chính phủ Mỹ và Ngân hàng nhận thấy rằng, nếu giữ BĐS bị tịch thu và chỉ đưa nhỏ giọt tài sản ra để đấu giá thì với lo ngại khan hiếm nguồn BĐS sẽ kích thích người dân mua tài sản đấu giá hơn. Tuy nhiên, với hiện trạng hàng tồn BĐS do ngân hàng nắm giữ quá lớn mà không có cú hích thật sự để kích thích nhu cầu giao dịch BĐS thì ngân hàng sẽ bị chết chìm trong TSBĐ đang giữ của các khoản vay quá hạn nhưng không thể thu hồi nợ.
-Cuối cùng các nhà đầu tư/đầu cơ phố Wall đã vào cuộc. Họ nhận thấy rằng: (i) số người bị mất nhà không có chỗ ở đang tăng cao, nhưng điều kiện kinh tế để mua nhà là không thể có, do đó hình thức thuê nhà ở rất phù hợp ở thời điểm hiện tại. Đặc biệt là những người đã bị tịch thu tài sản nhưng vẫn muốn tiếp tục được ở trong căn nhà của họ; và (ii) số tiền cho thuê - số tiền đầu tư vẫn có một khoảng lợi nhuận khá lớn đủ hấp dẫn để các ông lớn nhảy vào. => Thị trường bất động sản cuối cùng cũng đã khởi sắc trở lại, giao dịch mua bán liên tục và giá nhà cũng liên tục được đẩy lên. Tuy nhiên, BĐS lại chủ yếu nằm trong tay những nhà đầu cơ còn người muốn mua thực sự thì lại không thể mua được. Với hiện trạng giá nhà ngày một bị đẩy lên cao thì lại càng khó cho những người trẻ hoàn thành giấc mơ Mỹ của họ. Tình trạng giới trẻ quay về ở nhờ bố mẹ đang ngày một gia tăng ở Mỹ.

Chương 6: Của cải bị chia cắt, đôi cách ước mơ cũng bị bẻ gãy
-Sau khủng hoảng tài chính năm 2008, Chính phủ Mỹ đưa ra chính sách QE3 và truyền thông về việc phát hành tiền để tái tạo lại nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê thì từ sau 2008 số việc làm giảm mạnh, tỷ lệ người siêu giàu giữ nguyên, tỷ lệ người trung lưu giảm khoảng 1%, tỷ lệ người nghèo chiếm 90% ở Mỹ với mức thu nhập chỉ đủ để tồn tại, họ không có khả năng để hưởng thụ bất kỳ dịch vụ nào trên nước Mỹ. Việc lương cơ bản quá thấp là nguyên nhân gây ra nhiều cuộc biểu tình đòi tăng lương cơ bản với Chính Phủ Mỹ. Vậy thực chất QE3 có phải để phục hồi kinh tế không, hay chỉ để làm giàu cho phố Wall.
-Obama tranh cử tổng thống bằng các bài phát biểu rất đi vào lòng người khi quyết tâm giảm khoảng cách giàu nghèo và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, trên thực tế Obama nói được nhưng không làm được: (i) Obama không có kiến thức tài chính siêu việt, không nắm được dòng chảy của đồng tiền nên không tác động được xu hướng kinh tế của Mỹ. Không tạo được áp lực/chính sách để các doanh nghiệp lớn đưa việc sản xuất trở lại Mỹ, mặc dù đã cho xây dựng và phát triển nhiều điều kiện khác nhau nhưng số lượng việc làm trong ngành sản xuất của Mỹ phần lớn vẫn nằm ở nước ngoài. (ii) Obama đã quyết định giúp phố Wall phục hồi với hy vọng sẽ được phố Wall ủng hộ và giúp đỡ các chính sách của Obama đưa ra, nhưng Obama đã lầm. Phố Wall cho rằng việc ông ngồi được ở vị trí tổng thống là nhờ phố Wall, do đó việc ông giúp họ khôi phục kinh tế thực chất là trả ơn cho phố Wall mà thôi, phố Wall không có mong muốn sẽ giúp đỡ người nghèo và đã ngang nhiên từ chối rất nhiều buổi toạ đàm cũng như lệnh triệu tập của Obama. (iii) Obama cho rằng việc phát triển năng lượng sẽ giúp tạo thêm công ăn việc làm cho người dân và đã đẩy mạnh phát triển năng lượng đá phiến. Tuy nhiên, việc phát triển năng lượng này dễ gây nhiễm độc nguồn nước sinh hoạt của người dân, đồng thời do khai thác năng lượng đá phiến trên đất tư nhân nên việc khai thác được tận dụng tối đa trong thời gian thuê, khoảng 3 năm là tài nguyên của một mỏ đã khai thác gần hết, và cùng lắm tới 5 năm là mỏ sẽ bị khai thác hết tài nguyên. Do đó, trái với dự đoán, ngành năng lượng đá phiến không thúc đẩy được số lượng việc làm cho người dân Mỹ. Chính sách của Obama hoàn toàn thất bại.

Chương 7: Sự trỗi dậy và sụp đổ của thành Rome, con đường đẫm máu của lòng tham.
-Đế chế La Mã hùng mạnh một phần là do có quân đội hùng mạnh. Từng người lính đều xuất thân là nông dân, họ có gia đình, đất đai và tài sản cần bảo vệ. Họ có của cải khi xâm lược thành công lãnh thổ của dân tộc khác. Điều đó tạo nên độ thiện chiến và quyết tâm của quân đội La Mã. Tuy nhiên, để nuôi được một quân đội hùng mạnh thì La Mã cần thật nhiều lương thực cung cấp cho quân đội, dẫn đến Hoàng đế La Mã ra lệnh ép giá lương thực xuống thật thấp nhằm giảm chi phí mua lương thực của Đế chế. Khi giá lương thực quá thấp thì nông dân không còn động lực phát triển cây lương thực dẫn đến (i) những người giàu đất đai sẽ chuyển phần lớn diện tích đất sang trồng những loại cây mang lại nguồn lợi kinh tế lớn hơn như nho để sản xuất rượu, tơ tằm sản xuất quần áo,... (ii) chi phí sản xuất lương thực không đủ ăn, không đủ để đóng các loại sưu cao thuế nặng của đế chế dẫn đến nông dân phải vay nặng lãi được thế chấp bằng đất đai, cuối cùng nông dân mất hết đất đai vào tay địa chủ. Khi đất đai không còn, tài sản không còn, quân đội với thành phần chính là nông dân vừa hết động lực chiến đấu vừa có tâm lý bất mãn và oán hận tầng lớp địa chủ (tại sao phải bỏ mạng chiến đấu bảo vệ đất đai và của cải của những người đã đàn áp và cướp bóc của mình) đã làm giảm sức mạnh quân sự của La Mã và là một trong những nguyên nhân khiến đế chế La Mã lụi bại.
-Đã có những Hoàng Đế và thành viên của Hộ dân quan nhận ra việc khoảng cách giàu nghèo ngày một đi xa, đất đai tập trung vào tay đại chủ và tình trạng vô gia cư, thiếu thốn lương thực ngày một gia tăng sẽ gây bất ổn trong Chính trị và rủi ro cho Đế chế. Một số cải cách để bảo vệ quyền lợi của nông dân được đưa ra. Tuy nhiên, khi tầng lớp địa chủ đã nắm tất cả các vị trí quan trọng trong giai cấp cầm quyền thì địa chủ đã phản ứng vô cùng gay gắt, thậm chí công khai giết sạch thành viên Hộ dân quan và các nông dân có mong muốn cải cách ruộng đất.
-Đến một ngày, quân đội La Mã với thành phần chính là nông dân chợt nhận ra sức mạnh của họ đối với Đế chế. Quân đội vùng lên đàn áp và giết rất nhiều người thuộc tầng lớp địa chủ. Nếu Hoàng đế có những sắc lệnh không hợp ý Quân đội cũng ngay lập tức bị Quân đội xử trảm.
-Năm 292, hiểu rằng không thể cai quản nổi cả một vùng rộng lớn với những bất cập như vậy, Diocletian đã chia La Mã thành 4 vùng đất riêng cho 4 hoàng đế cai trị. Đế chế La Mã chính thức sụp đổ.
This entire review has been hidden because of spoilers.
Profile Image for Mati 'Matimajczyta'.
374 reviews1 follower
June 15, 2025
The first volume truly changed my life and made me reach for economic literature much more often. It marked the beginning of a fascinating literary journey, which fortunately continues to this day. Thanks to this book, I now look at history, changes in business, and decisions made by people, companies, and those in power from a different perspective.
Each subsequent volume brought something new, but from the fourth book onward, I feel that the author is searching for new topics a bit by force and trying to expand on the threads from the earlier parts. Although he still aims to share important information, I have the impression that these insights are becoming increasingly diluted.
This volume, like the fourth, was at times boring for me. I understand the author’s intent and the reasons why he focused on certain topics, but he has moved away from Europe and the current changes we are facing. I missed the continuation of the threads from the previous books, and the discussion of new regional areas felt too exhausting.
I know that the author’s style is based on very detailed analysis—which I once considered his strength—but now I find it more tiring. I still return with fondness to the first three outstanding volumes, but lately, it’s becoming more and more difficult for me to read his newer books.
Displaying 1 - 3 of 3 reviews

Can't find what you're looking for?

Get help and learn more about the design.