Có lẽ không quá đáng khi tôn xưng Vũ Trọng Phụng là Molière của Việt Nam, hoặc cũng có lẽ do ảnh hưởng của Molière mà chúng ta mới có được một cây viết trào phúng xuất sắc như Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam.
Trúng Số Độc Đắc kể về Phúc, một “cậu áo trắng dài”, một anh thất nghiệp ngày ngày ra vườn hoa đọc sách nhằm “tu thân sửa chí” để trở thành một “hiền nhân quân tử ở đời”. Vốn coi trọng nhân nghĩa, bác ái, coi khinh đồng tiền, một ngày anh chợt nhận ra rằng “không có tiền thì không làm gì được”. Không chỉ bị vợ sỉ vả đủ thứ, bố mẹ coi khinh, đi xin việc thì bị lão chủ Tây ném đơn xuống đất, đến cả khi muốn giúp người thì cũng lực bất tòng tâm. Do đó, anh cam đoan sẽ quyết chí làm giàu và dùng đồng tiền để làm điều tốt đẹp. Thế nhưng đời thay đổi thì lòng người cũng đổi. Anh trúng số độc đắc mười vạn thì bố mẹ anh cũng phải sợ anh, lão chủ Tây cũng phải xum xoe cúi nịnh. Nhưng trúng số mười vạn thì anh cũng lao mình vào con đường tư bản, xem xét lại những tư tưởng của mình thuở còn kiết xác và rút ra những bài học mới đắt giá hơn, vị kỉ hơn, đến mức có thể nhại theo Thánh hiền mà đúc rút ra bài học “Vi nhân bất phú”. Anh thay đổi, anh biết mình thay đổi đến mức tự nói rằng “xưa kia tôi đạo đức là vì chưa có đủ tiền để hư”…
Dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, sự thay đổi về tính cách, tư tưởng và cuộc sống của Phúc được mô tả vô cùng sống động. Không chỉ mô tả chi tiết những suy nghĩ và diễn biến tâm trạng của Phúc, tác giả còn đưa vào câu chuyện những nhân vật tương phản, nào là cụ phán cha của Phúc đê tiện đến cùng cực, cả đời sợ Tây dẫn đến nịnh Tây, sợ cả con của mình; rồi mẹ Phúc ác khẩu với con, khinh bạc chồng đến thế là cùng; cô vợ thì ác mó, chua ngoa và khi mới bốc lên giàu có thì kệch cỡm không để đâu cho hết… không phải ai cũng có tên, nhưng ai cũng có vai trò của riêng mình, làm nổi bật lên cái lố lăng của sự đời và góp phần thúc đẩy diễn biến tâm trạng của Phúc trở nên rõ rệt và sống động.
Cái tài của tác giả không chỉ dừng ở đó. Ông còn có thể bình luận về những sự việc ngược đời một cách rất buồn cười mà tự nhiên như không: cụ phán mặc cả xe kéo “theo lối đa số các cụ thượng lưu nhân vật, nhất định không chịu thua phu xe một đồng xu”. “Thấy ông phán không dám lấy dăm hào giúp người anh họ nghèo khổ phải chờ hỏi vợ đã, thì Phúc “rất lấy làm phục cho cái tinh thần nữ quyền ở gia đình”. Bà vợ thì “vẫn biết cái quyền của vị hiền phụ chính danh là không bao giờ lại chịu để cho chồng cãi lại bất cứ điều gì”. Khi bình luận về thói nói xấu sau lưng người khác, ông lại mượn lời nhân vật để mà rằng “Nói xấu đó chẳng cái mục đích của loài người đó sao? Nhất là lại đối với kẻ nào hơn mình, thì nếu không nói xấu sau lưng, còn cách gì cho hả lòng ghen tức nữa”. Rồi sau đó, ông lại để Tấn bàn tiếp về thói hợm của và sự dị dạng của xã hội một cách nhẹ nhàng “Giàu hay nghèo cũng đều bị ghét, điều ấy là cố nhiên. Duy chỉ có cái đáng để ý là mình giàu dầu có bị ghét, mình cũng chỉ bị nói xấu sau lưng thôi. Còn nghèo thì bị khinh ra mặt.”
Rất nhiều những triết lí và thói đời ngược ngạo trong truyện của Vũ Trọng Phụng vẫn còn nguyên cho đến ngày hôm nay. Sau gần ngót nghét một thế kỷ, trải qua bao nhiêu lần chiến tranh và thời cuộc đổi thay, từ nô lệ sang tự do, từ bị đô hộ sang dân chủ, từ tư bản sang cộng sản, xã hội chúng ta dường như vẫn còn y đó những tấn bi hài kịch mà tác giả khắc hoạ: vẫn những kẻ mới nổi giàu lên không biết làm sao để cư xử như người giàu, vẫn những con “cua trong giỏ” suốt ngày chỉ biết níu chân nhau, chịu đựng đẻ kẻ trên đạp đầu mình và dồn hết căm tức đạp đầu kẻ dứơi, vẫn những tư bản “không hề ngờ ngợ” cho rằng những giá trị tư tưởng tốt đẹp mình hằng tôn thời khi còn nghèo giờ đã trở nên “không hợp thời” và ngu ngốc đến tột độ, rằng “Chẳng phải luân lý hay đạo đức vẫn cầm cân nảy mực cho đời, đó chỉ là kiếm tiền giữ quyền thống trị và an bài mọi điều nhân nghĩa, đạo đức, trên cõi thế gian, tự cổ chí kim…” Bài Thế tục phú của Trần Văn Nghĩa mà Phúc tức cảnh sinh tình ngâm lên, ngẫm lại tới bây giờ vẫn đúng nguyên như thế:
“Khi đắt thế thì đất nặn nên bụt, nghe hơi khá thì xa xăm chen gót tới, đến ngỡ đàn ruồi!
Nhỡ sa cơ thì rồng cũng như giun, xem chiều hèn thì thênh thênh vẫy tay ra, nhạt như nước ốc!
Chẳng biết ăn cây nào rào cây ấy, thấy bở thì đào. Chẳng biết được lòng ta xót lòng người, cứ mềm thì đục.
Khó giữa chợ nào ai thèm hỏi? Chẳng mua thì bán giận cũng thờ ơ. Giàu trên non lắm kẻ đi tìm, không ép dầu nài thương mà sạo sục…”