Jump to ratings and reviews
Rate this book

Vương Triều Lê

Rate this book
Cung cấp đầy đủ, hệ thống và toàn diện lịch sử dân tộc trong 100 năm dưới triều Lê (1428-1527) về các mặt xây dựng và củng cố đất nước, quân đội, chính sách kinh tế, xã hội... qua các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nghi Dân...

Unknown Binding

Published January 1, 2019

Loading...
Loading...

About the author

Ratings & Reviews

What do you think?
Rate this book

Friends & Following

Create a free account to discover what your friends think of this book!

Community Reviews

5 stars
0 (0%)
4 stars
0 (0%)
3 stars
1 (100%)
2 stars
0 (0%)
1 star
0 (0%)
Displaying 1 - 1 of 1 review
Profile Image for Tai Chung.
62 reviews2 followers
October 2, 2026
Sách là cuốn thứ ba nằm trong bộ sách chào đón 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tiếp sau cuốn Vương triều Lý và Vương triều Trần. Cách viết cũng không có gì khác so với cuốn trước, vẫn là tường thuật lịch sử thành từng chương qua từng thời kỳ, sau đó lại làm một phần tổng hợp về các mặt của đất nước thời Lê, sau đó là tổng hợp bài viết của các tác giả khác. Với cách viết này đã khiến cho dung lượng sách quá dài, và chứa nhiều phần lặp lại.

Về tên gọi sách - VƯƠNG triều Lê, mình cũng đã từng có ý kiến khi review cuốn tiền nhiệm là Vương Triều Trần (sic), nên ở đây không muốn nói lại. Các cụ như Thái Tông, Thánh Tông mà biết hậu thế gọi mình là tước vương thì chắc cũng không vui lắm :))

Và, vẫn kế nhiệm những điểm yếu chí mạng từ hai cuốn tiền nhiệm, sau đây cũng xin mạn phép bóc những lỗi sai chình ình của tập thể tác giả trong tập sách được đầu tư trọng điểm cho Đại lễ 1000 năm này:
- Trang 620: tác giả chép tên của người con trai thứ 13 của Lê Thánh Tông, tước Triệu vương là Lê Viên. Mình có tra cứu Hán tự tên của vị hoàng tử này (鋑), thì cho ra 3 âm đọc là Thuyên/ Tiêm/ hoặc Thoán, trên Wikipedia thì ghi là Thoan. Trước đây mình cũng từng đọc được ở nhiều sách khác ghi tên của Triệu vương là Thoan. Chưa biết nên đọc như nào do mình không có chuyên môn về Hán tự, nhưng khá chắc không đọc là Viên.
- Trang 617: "Niên hiệu Đại Hòa thứ 3 (1445), ..." Niên hiệu của vua Lê Nhân Tông trong giai đoạn này là Thái Hòa. Trước đó mình cũng bóc 1 lỗi trong cuốn "Vương triều Trần" nhầm lẫn chữ Thái (太) và Đại (大). Dù là hai chữ này trong Hán tự gần giống nhau, nhưng mình đang viết bằng Quốc ngữ Latinh mà các tác giả ơi.
- Trang 541: "Trạm Nhược Thủy, Phan Hy Tăng đều họa vần đáp lại tấm thịnh tình của vua Lê Hiến Tông". Trời ơi, hai ông sứ thần Trạm và Phan đi sứ Đại Việt năm 1513 và làm thơ chê vua Đại Việt là vua lợn. Vua lợn chắc nhiều bạn biết rồi, là vua Lê Tương Dực đấy. Còn Hiến Tông đã băng hà từ 1504 rồi còn đâu.
- Trang 370: "thì đến vua Lê Chiêu Tông, người kế vị không còn là tông thất họ Lê nữa, mà lịch sử đã chuyển sang tay họ Mạc, ...". Chắc tác giả bỏ sót Lê Cung Hoàng, ông hoàng đệ Xuân của vua Chiêu Tông rồi. Dù là con rối được Mạc Đăng Dung dựng lên, và Chiêu Tông còn lưu vong đến 1526, nhưng trên danh nghĩa Cung Hoàng vẫn là hoàng đế ngồi tại Đông Kinh từ 1522, và chỉ bị phế năm 1527. Cung Hoàng vẫn được chính thức thừa nhận là vua cuối cùng của thời Lê sơ.
- Trang 369: "bia Tiến sĩ khoa Giáp Tuất, năm Hồng Thuận thứ 6 (1514), có phần ca tụng quá lời về công lao của vương triều Lê Chiêu Tông...". Thời điểm 1514 thì ông vua Lê đương trên ngai vẫn là Lê Tương Dực, thế mà lời bia ca tụng về thời của Lê Chiêu Tông (lên ngôi 1516) thì quả là xuyên không.
- Trang 350: "Giản Tu công Dinh còn bị giam ở ngục, phải đem của cải đút lót người canh giữ mới thoát ra được..." Đoạn này viết về vua Lê Tương Dực lúc còn bị giam trong ngục của Lê Uy Mục. Tên của vua đều được đa số sách viết là Oanh/Oánh. Mình cũng cẩn thận đi tra từ điển chữ 瀠 của Tương Dực, thì cũng ra âm đọc là Oanh, không có âm Dinh.
- Trang 346: "Năm 1489, triều đình Lê Hiến Tông đã cử các sứ thần...". Năm 1489 vua cha Lê Thánh Tông còn sống sờ sờ. Ở đây chắc là typo từ năm 1498.
- Trang 221: nhắc tên ông Nguyễn Như Đổ nhưng chép thành Như ĐỖ. Chắc tác giả thấy chữ Đổ lạ quá nên tiện tay type lại thành Đỗ. Tên ông 阮如堵 thì chữ 堵 mình đã tra từ điển, âm đọc là Đổ.
- Trang 180: "sinh con trai là Nghi Dân tháng Mười năm Quý Mùi (1439) và tháng ba năm Canh Thân (1400) được lập làm Hoàng thái tử". Quá ẩu, biết là typo từ 1440 thành 1400 nhưng ẩu tả quá.
- Trang 34: "Tháng Hai năm Canh Hợi (1420), ..." Không hiểu sao bói ra được quả can chi năm Canh Hợi :))) năm 1419 là Kỷ Hợi, còn 1420 là Canh Tí. Không biết là typo, hay là thật sự tin rằng có năm Canh Hợi :))) cười thật sự.
Displaying 1 - 1 of 1 review