Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Kim Lân viết về tình yêu quê hương của những người dân quê Việt Nam.[1]
Truyện ngắn này được sáng tác vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 9.
Ông Hai là một người ở làng chợ Dầu, ông yêu làng và ông hay khoe làng. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh nên ông buộc phải tản cư đi tới làng Bảo Thắng sinh sống. Dù ông phải xa làng nhưng ông vẫn luôn nhớ về làng mình. Một ngày nọ, ông nghe được từ một người đàn bà đi tản cư một tin dữ Làng ông theo giặc (Làng Chợ Dầu theo Tây, bọn Việt Gian, Cam nhông). Ông trở về nhà trong sự buồn bã thất vọng, ba bốn ngày liền ông không dám ra ngoài vì xấu hổ tủi nhục. Ông đã phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều:" Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù". Trong lúc buồn bã, ông ngồi nói chuyện với thằng cu Húc (đứa con trai út). Trong cuộc trò chuyện với con, ông muốn hướng cho con phải biết yêu, tự hào về quê hương, đất nước. Vài ngày sau, ông Hai nghe được tin cải chính:" Làng ông không theo giặc". Ông vui mừng khôn xiết và kể lại cho mọi người nhà mình bị đốt, làng mình không theo giặc.
Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày l tháng 8 năm 1920, quê làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm kiếm sống. Ông vừa làm thợ (sơn guốc, khắc tranh bình phong), vừa viết văn. Những tác phẩm đầu tay của Kim Lân là những truyện ngắn, xuất hiện khá đều đặn trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật trong những năm 1941- 1944. Một số truyện của ông (như Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa...) mang tính chất tự truyện, nhưng vẫn có ý nghĩa xã hội đáng kể, vì đã tái hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ của người nông dân. Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào đề tài độc đáo: miêu tả những sinh hoạt văn hoá cổ truyền phong phú ở nông thôn như đánh vật, chọi gà, thả chim... Các truyện nổi tiếng như Con mã mái, Đôi chim thành, Chó săn... tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh, tao nhã, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước cách mạng - những con người cực nhọc khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa. Năm 1944, Kim Lân giác ngộ cách mạng, tham gia Hội văn hoá Cứu quốc, trở thành bạn tri kỷ với Nguyên Hồng, Nam Cao - những nhà văn của người cùng khổ. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tích cực hoạt động trong phong trào Văn hoá cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, Kim Lân lần lượt công tác tại các báo Chi Lăng (Khu uỷ khu XII), Xông pha (Quân đội khu XII), Dân quân Việt Bắc. Năm 1953, ông chuyển về công tác tại Hội văn nghệ Việt Nam. Từ 1954, ông lần lượt công tác ở nhiều cơ quan văn nghệ Trung ương như báo Văn nghệ, Hội Văn nghệ Việt Nam... Từ sau Cách mạng, Kim Lân vẫn chuyên viết truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam - mảng sống mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc và có nhiều kỷ niệm - ông phản ánh và ngợi ca sự đổi mới nhận thức và tình cảm của người nông dân (Truyện ngắn Làng), sự đổi đời của họ trong Cải cách ruộng đất (truyện Nên vợ nên chồng), những hoạt động bình thường nhưng cảm động và đáng quý của họ (truyện Bố con ông gác máy bay trên núi Cối Kê), những khát vọng hạnh phúc trong cuộc sống đói nghèo, tăm tối (truyện Vợ nhặt) v. v. . . Ngoài hoạt động sáng tác, nhà văn Kim Lân còn tham gia sân khấu và điện ảnh. ông diễn kịch, đóng phim. Nhân vật lão Hạc trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy do Kim Lân thủ vai đã để lại ấn tượhg đặc biệt sâu sắc trong người xem, khẳng định tài năng vả tấm lòng nhà văn đối với cuộc đời và với nghệ thuật.
Truyện ngắn không quá nhiều phân cảnh nhưng súc tích, đủ ý nghĩa. Truyện về ông lão buộc phải đi tản cư khỏi làng Dầu vì có vợ và 3 đứa con thơ, nêu bật sự chuyển biến tâm trạng của ông lão, từ rất yêu làng, buồn rầu từ giã hội kháng chiến để đến làng tản cư, suy sụp vì nghe tin làng làm Việt gian theo Tây, cho đến sung sướng vỡ oà khi tin tức được đính chính. Đan xen trong đó là những niềm tin, một lòng với Đảng và với Cụ Hồ, thực sự là một tác phẩm xứng đáng được đưa vào SGK "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù"